Chử Đồng Tử

Chử Đạo Tổ · Đức Thánh Chử · Chử Tiên · Chử Cù Vân (tên cha, đôi khi dùng chỉ chính nhân vật)
褚童子 · Chử Đồng Tử: The Saint of Love, Patron of Merchants
Thần linh Bắc Bộ Hùng Vương thứ 3 (theo Lĩnh Nam chích quái) / thứ 18 (theo thần tích đền Đa Hoà)
Chử Đồng Tử

Chử Đồng Tử là chàng trai nghèo làng Chử Xá, nghèo đến mức nhường chiếc khố duy nhất liệm cha, lại lấy được công chúa Tiên Dung trong một cuộc kỳ ngộ bất ngờ trên bãi sông Hồng. Hai vợ chồng bỏ cung đình, mở chợ buôn bán, rồi Chử Đồng Tử gặp sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên và được trao gậy thần, nón thần. Đêm dựng lên cả thành quách, lâu đài. Sáng hôm sau, thành quách và cả hai người bay về trời, để lại đầm Nhất Dạ Trạch. Nhiều thế kỷ sau theo khung truyện, ông hiển linh trao móng rồng cho Triệu Quang Phục đánh giặc Lương. Là một trong Tứ bất tử, được thờ trong hệ thống hơn 70 làng ven sông Hồng. Được coi là ông tổ nghề buôn và nhân vật tổng hợp Phật giáo và Đạo giáo sớm nhất trong thần thoại Việt Nam.

Chuyện kể

Đời Hùng Vương thứ ba, ở làng Chử Xá ven sông Hồng có hai cha con họ Chử. Cha là Chử Cù Vân, con là Chử Đồng Tử. Nhà nghèo, nghèo đến mức cả gia sản chỉ còn đúng một chiếc khố vải. Hai cha con dùng chung: ai có việc ra ngoài thì người ấy đóng khố, người kia ở nhà chịu trần.

Rồi người cha ốm nặng, mất. Chử Đồng Tử không đành để cha về đất trần trụi. Chàng lấy chiếc khố duy nhất liệm cha mà chôn. Từ hôm đó, chàng không còn một mảnh vải che thân.

Chàng sống dọc bãi sông, mò cua bắt ốc qua ngày. Thấy bóng người, bóng thuyền, chàng lánh trước. Kẻ nghèo nhất bãi sông không sợ đói bằng sợ bị nhìn thấy.

Một buổi, từ phía thượng nguồn có đoàn thuyền lớn xuôi xuống, cờ lọng, chiêng trống, cung nữ đứng chật mạn thuyền. Đó là thuyền của Tiên Dung, công chúa con Hùng Vương, người con gái nổi tiếng không chịu lấy chồng, chỉ xin vua cha cho đi chơi thuyền khắp các ngả sông. Thuyền rẽ vào đúng quãng bãi nơi Chử Đồng Tử đang kiếm ăn.

Không kịp chạy. Bãi cát trống trơn, không một bụi lau đủ kín. Chàng bới vội cát thành hố, nằm xuống, vơ cát phủ kín người, nín thở.

Thuyền ghé bãi. Bãi đẹp, cát mịn, công chúa muốn tắm. Cung nữ lên bờ, quây màn ngay trên bãi, đắp bờ cát, múc nước sông dội. Chỗ quây màn là chỗ Chử Đồng Tử đang nằm. Nước dội xuống, cát trôi đi. Cát trôi đến đâu, lộ ra đến đó một chàng trai không mảnh vải, nằm giữa vòng màn tắm của công chúa.

Tiên Dung không kêu, không gọi lính. Nàng hỏi. Chàng kể: cha mất, chiếc khố duy nhất đã liệm cha, thân trần không dám gặp người, thấy thuyền thì vùi mình trốn, ai ngờ trốn đúng chỗ này. Nàng nghe xong, nói: ta đã nguyện không lấy chồng, nay trời xui gặp nhau thế này, ấy là duyên trời định. Hôm đó, ngay trên bãi cát, hai người thành vợ chồng. Không sính lễ, không phép tắc, không hỏi ai.

Tin về đến kinh đô Phong Châu. Hùng Vương giận: con gái vua lấy kẻ trần thân giữa bãi sông. Vua không cho về cung. Tiên Dung cũng không về nữa. Hai vợ chồng ở lại bãi, dựng chỗ ở, đổi chác với thuyền bè qua lại. Chỗ ấy dần thành chợ, thuyền các nơi đổ về, cả khách buôn nước ngoài cũng tìm đến. Người ta gọi là chợ Hà Thị.

Một chuyến, Chử Đồng Tử theo thuyền buôn ra biển. Thuyền ghé núi Quỳnh Viên. Trên núi có một nhà sư, hiệu là Phật Quang. Chử Đồng Tử gặp sư, ở lại học đạo. Ngày từ biệt, sư trao cho chàng một cây gậy và một chiếc nón, dặn rằng phép linh dị nằm cả ở hai vật này.

Chàng về, kể cho vợ. Tiên Dung nghe rồi bỏ cả chợ búa đang buôn bán được, cùng chồng lên đường tìm thầy học đạo. Một hôm trời tối giữa đường, hai vợ chồng dừng chân trên bãi hoang, cắm cây gậy xuống đất, úp chiếc nón lên trên mà che sương, rồi ngủ.

Đến canh ba, quanh chỗ cắm gậy hiện lên một tòa thành. Lầu ngọc, điện vàng, đền đài, kho tàng, tiên đồng ngọc nữ la liệt, quân hầu đứng chật sân. Sáng ra, dân quanh vùng trông thấy, kinh sợ, đem hương hoa lễ vật đến xin theo. Giữa đồng không, sau một đêm, có một triều đình.

Tin lại về Phong Châu. Vua cho là chuyện chẳng lành, sai quân đến đánh. Quân đến bờ sông thì trời sập tối, đành đóng lại bên này bờ, đợi sáng.

Nửa đêm, gió lớn nổi lên. Cả tòa thành, người trong thành, cùng Chử Đồng Tử và Tiên Dung, nhấc khỏi mặt đất, bay lên trời. Chỗ đất thành quách vừa đứng sụt xuống thành một cái đầm rộng.

Sáng hôm sau, quân bên kia sông nhìn sang chỉ còn thấy mặt nước. Người quanh vùng lập đền thờ ngay bờ đầm. Đầm được gọi là Nhất Dạ Trạch, đầm một đêm. Bãi cát nơi kỳ ngộ gọi là bãi Tự Nhiên. Chợ cũ gọi là Hà Thị.


Lớp truyền thuyết thứ hai: Triệu Quang Phục

Câu chuyện trên không có niên đại. Nhưng lớp truyền thuyết thứ hai của Chử Đồng Tử thì có: năm 549, khi tướng Triệu Quang Phục đang cầm cự với quân xâm lược nhà Lương tại chính đầm Dạ Trạch này. Quân Lương không thể đánh vào vì lau sậy dày đặc, bùn lầy không lội được. Quang Phục đốt hương cầu đảo. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, “tục truyền rằng thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử bấy giờ cưỡi rồng vàng từ trên trời rơi xuống, rút móng rồng trao cho vua, bảo gài lên mũ đâu mâu mà đánh giặc.”

Ngô Sĩ Liên nghi ngờ câu chuyện này. Ông ghi xong rồi phê thẳng: “An Dương Vương bại vong là do nỏ thần bị đổi lẫy, Triệu Việt Vương bại vong vì mũ đâu mâu mất móng rồng, đều là mượn lời để cho vật trở thành thiêng mà thôi.” Câu phê đồng thời cho thấy: truyện đã đủ phổ biến đến mức sử gia chính thức phải viết ra để bác bỏ.

Tạ Chí Đại Trường trong Thần, Người và Đất Việt gọi cơ chế này là “nhân thần chồng lên thiên thần.” Chử Đồng Tử ban đầu có thể chỉ là thuỷ thần địa phương của đầm Dạ Trạch. Cuộc kháng chiến Triệu Quang Phục biến ông thành thần bảo hộ quốc gia. Truyền thuyết Hùng Vương, Tiên Dung, thành một đêm là lớp văn bản được ghi muộn hơn, trong Lĩnh Nam chích quái, đặt ông vào thời nguyên thuỷ. Địa danh này có entry riêng: xem Nhất Dạ Trạch.

Đạo giáo, Phật giáo, hay cả hai?

Đây là câu hỏi chưa ai trả lời dứt khoát.

Nhóm nghiên cứu Đạo giáo, đứng đầu là Nguyễn Đăng Duy, gọi Chử Đồng Tử là “Chử Đạo Tổ,” ông tổ Đạo giáo Việt Nam. Gậy thần, nón thần, thăng thiên, cưỡi rồng vàng hiển linh: toàn bộ là ngôn ngữ Đạo giáo thần tiên. Câu đối ở đền Đa Hoà ghi: “Quỳnh Lâm gậy nón tiếp chân truyền.” Không thể hiểu khác đi.

Nhưng Lê Mạnh Thát trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam lại tranh luận ngược lại: người trao phép cho Chử Đồng Tử là sư Phật Quang, không phải đạo sĩ nào. Núi Quỳnh Viên là nơi có tu sĩ Phật giáo. Ông đề xuất Chử Đồng Tử và Tiên Dung là “Phật tử đầu tiên của Việt Nam”, cứ liệu sớm nhất về sự xuất hiện của đạo Phật ở đây. Lê Mạnh Thát cũng thẳng thắn thừa nhận: “trừ phi ta khai quật tại núi Quỳnh Viên và tìm thấy di vật liên hệ với Chử Đồng Tử, vấn đề mới được giải quyết dứt điểm.”

Nguyễn Duy Hinh đứng giữa: chỉ nên gọi Chử Đồng Tử là nhân vật của “Tiên đạo”, truyền thống tiên thần bản địa Việt Nam hình thành trước khi Đạo giáo thần tiên Trung Quốc du nhập có hệ thống từ thời Sĩ Nhiếp, Cao Biền. Gọi ông là “Đạo Tổ” chính thức là đẩy niên đại Đạo giáo Việt Nam quá sớm, không khớp sử liệu.

Cặp gậy nón là vật chứng cho sự tranh luận này. Cùng một bộ đồ vật đọc được theo cả hai hướng: tích trượng và nón tăng (Phật giáo) hoặc pháp khí phép thuật (Đạo giáo). Chưa ai thắng cuộc tranh luận này; ba vị trí (Đạo giáo, Phật giáo, Tiên đạo bản địa) vẫn cùng đứng trong nghiên cứu, mỗi vị trí có người bảo vệ có tên tuổi.

Tứ bất tử: câu hỏi về tính cổ xưa của bảng này

Chử Đồng Tử thường được xếp vào hệ Tứ bất tử cùng Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nhưng bảng này không ổn định như người ta tưởng.

Chu Xuân Giao trong bài nghiên cứu đăng Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (số 1/2014) chỉ rõ: Hội Chân Biên, cuốn sách thường được trích dẫn như nguồn cổ nhất của bảng Tứ bất tử, thực ra không đưa ra bảng bốn vị này. Sách liệt kê 27 vị bất tử (13 nam, 14 nữ), không có bảng rút gọn bốn người. Hệ Tứ bất tử như một bộ cố định là sản phẩm của folklore học Việt Nam hiện đại nửa sau thế kỷ XX, chủ yếu qua công trình của Vũ Ngọc Khánh và Ngô Đức Thịnh (1990/1991).

Điều thú vị là: Chử Đồng Tử có mặt trong hầu như mọi dị bản danh sách “bất tử,” dù tên còn lại thay đổi. Một số bản thế kỷ XV-XVII thay Liễu Hạnh bằng Nguyễn Minh Không hoặc Từ Đạo Hạnh. Ông là nhân vật ổn định nhất trong một hệ thống vốn không ổn định. Chi tiết này thường được dẫn làm luận cứ rằng tín ngưỡng thờ Chử Đồng Tử có gốc rễ sâu hơn bảng Tứ bất tử, không phải ngược lại.

Ông tổ nghề buôn

Chi tiết thương mại trong truyện không phải tình tiết phụ. Sau khi bị vua cha cấm về cung, Chử Đồng Tử và Tiên Dung không về quê sống ẩn dật. Họ mở chợ. Chợ Hà Thị, ngay tại bãi sông nơi kỳ ngộ, giao thương với “khách nước ngoài.” Trước khi gặp sư Phật Quang, Chử Đồng Tử đi trên thuyền buôn, không phải thuyền hành hương.

Dân gian vùng Khoái Châu và dọc sông Hồng từ lâu thờ ông như tổ sư nghề thương mại, đặc biệt buôn bán đường sông. Ngày nay một số cộng đồng doanh nhân Việt Nam tôn ông là “Thánh tổ doanh thương”, tiếp nối truyền thống này trong hình thức mới.

Di tích và thờ cúng

Hệ thống thờ Chử Đồng Tử trải theo trục sông Hồng từ Gia Lâm đến Khoái Châu, qua khoảng 72 làng. Ba trung tâm chính:

Đình Chử Xá (Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội), quê hương theo truyền thuyết. Còn lưu giữ sắc phong niên hiệu Dương Đức 3 (1675) và Chính Hoà 5 (1684). Lễ hội 17-19 tháng Giêng.

Đền Đa Hoà (xã Mễ Sở, Khoái Châu), trung tâm thờ Chử Đồng Tử và Tiên Dung lớn nhất. Xây từ thế kỷ XVII, kiến trúc hiện tại chủ yếu thời Nguyễn. Còn ba ngai thờ gỗ cuối thế kỷ XVI-XVII, bảo vật độc bản, và 38 đạo sắc phong. Lễ hội 10-12 tháng Hai âm lịch, trung tâm là nghi thức rước nước từ giữa sông Hồng.

Đền Hoá Dạ Trạch (xã Triệu Việt Vương, Khoái Châu), nơi theo truyền thuyết là thành quách bay lên trời và đầm Nhất Dạ Trạch hình thành. Thờ Chử Đồng Tử cùng Tiên Dung và Tây Sa công chúa (nhân vật thứ ba trong thần tích địa phương, không có trong Lĩnh Nam chích quái; xem entry Tiên Dung về nhân vật này). Lễ hội 10-12 tháng Hai âm lịch.

Tháng 2/2023, Bộ VHTTDL đưa hai lễ hội này vào Danh mục Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia (QĐ 152 và 153). Tháng 11/2024, khu di tích Đa Hoà - Dạ Trạch được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt (QĐ 1473/QĐ-TTg). Chưa có hồ sơ UNESCO.

  1. Trần Thế Pháp (soạn cuối TK XIV), Vũ Quỳnh và Kiều Phú (hiệu đính 1492), Đoàn Vĩnh Phúc (tục biên 1554). Lĩnh Nam chích quái liệt truyện . Nhất Dạ Trạch truyện (一夜澤傳), Quyển I . Bản Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San (NXB Văn hoá/Văn học, 1960); bản Nguyễn Hữu Vinh và Trần Đình Hoành bình giải (dotchuoinon.com, 2015); bản Nguyễn Thị Oanh khảo luận dịch chú (2020). Lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm: A.2914, HV 486, VHV 1473..

    Đây là văn bản duy nhất ghi đầy đủ cốt truyện. Lĩnh Nam chích quái không phải Việt điện u linh tập, hay bị nhầm.

  2. Ngô Sĩ Liên. Đại Việt sử ký toàn thư . Ngoại kỷ, mục Triệu Việt Vương, năm Kỷ Tỵ thứ 2 (549) . Hoàn thành 1479; bản Nội các quan bản 1697. Bản dịch Ngô Đức Thọ và Hoàng Văn Lâu, Hà Văn Tấn hiệu đính, NXB Khoa học Xã hội..

    Chính sử không chép truyện Chử Đồng Tử như một thiên riêng. Ông chỉ xuất hiện trong lời chú 'tục truyền' ở mục Triệu Quang Phục, kèm lời phê của Ngô Sĩ Liên rằng đó là mượn lời để cho vật trở thành thiêng.

  3. Quốc sử quán triều Nguyễn. Khâm định Việt sử thông giám cương mục . Mục Triệu Việt Vương, lời chua 'Sử cũ chua rằng tục truyền...' . Hoàn thành 1856-1884. Bản dịch Viện Sử học, NXB Giáo dục..

    Lặp lại mô thức của Toàn thư: Chử Đồng Tử chỉ xuất hiện trong lời chú về Triệu Quang Phục, không có thiên riêng.

  4. Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1 . NXB Thuận Hoá, 1999; tái bản 2023.

    Luận điểm: Chử Đồng Tử là 'Phật tử Việt Nam đầu tiên'. Quỳnh Viên là núi Nam Giới, cửa Sót, Hà Tĩnh. Còn tranh luận, chưa có khai quật khảo cổ xác nhận.

  5. Tạ Chí Đại Trường. Thần, Người và Đất Việt . California 1989; tái bản Nhã Nam, NXB Tri Thức.

    Khung phân tầng 'nhân thần chồng lên thiên thần, thiên thần chồng lên nhiên thần' là công cụ lý thuyết hữu ích nhất để đọc nhân vật Chử Đồng Tử.

  6. Vũ Ngọc Khánh và Ngô Đức Thịnh. Tứ bất tử . NXB Văn hoá Dân tộc, 1990/1991; tái bản NXB Tri Thức 2025.

    Phổ biến hoá bảng 'Tứ bất tử' gồm Chử Đồng Tử trong folklore học hiện đại. Chu Xuân Giao (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, 1/2014) chỉ rõ bảng này không có trong Hội Chân Biên như lâu nay vẫn tưởng.

  7. Nguyễn Đăng Duy. Đạo giáo với văn hoá Việt Nam .

    Luận điểm 'Chử Đạo Tổ', ông tổ Đạo giáo Việt Nam. Nguyễn Duy Hinh phản bác: chỉ nên gọi là nhân vật của 'Tiên đạo', không phải Đạo giáo thần tiên chính thức.

Mạng lưới cục bộ