Sự tích bánh chưng bánh giầy (Chưng Bính truyện)

Chưng Bính truyện · Truyện bánh chưng · Sự tích bánh chưng bánh giầy · The Tale of the Steamed Cake
蒸餅傳 · Chưng Bính Truyện: The Tale of the Steamed Cake
Truyện cổ Bắc Bộ Bối cảnh truyện: đời Hùng Vương thứ sáu, sau khi phá quân Ân. Bối cảnh sáng tác: cuối TK XIV (Trần Thế Pháp), biên tập 1492-1493 (Vũ Quỳnh và Kiều Phú)
Sự tích bánh chưng bánh giầy (Chưng Bính truyện)

Chưng Bính truyện (蒸餅傳) là truyện thứ tám trong quyển I của Lĩnh Nam Chích Quái, giải thích nguồn gốc bánh chưng và bánh giầy qua cuộc thi kế vị đời Hùng Vương thứ sáu: hai mươi hai hoàng tử đi tìm của ngon vật lạ dâng cúng tiên vương, riêng người con thứ mười tám là Lang Liêu, mẹ mất sớm, không có gì ngoài gạo nếp, được thần nhân báo mộng chỉ cách làm hai thứ bánh vuông và tròn tượng hình đất trời. Vua chấm bánh của Lang Liêu đúng nhất và truyền ngôi cho ông. Văn bản hiện còn là sản phẩm của lần biên tập 1492-1493 (Vũ Quỳnh, Kiều Phú), trên nguyên cảo gán cho Trần Thế Pháp (TK XIV). Truyện gắn ba tầng nghĩa vào một vật thực: vũ trụ quan vuông tròn, đạo hiếu, và tính chính danh của ngôi vua; đến nay vẫn là truyền thuyết được dạy đầu tiên trong chương trình Ngữ Văn phổ thông.

Chuyện kể

Cuối năm ấy, kinh đô Phong Châu vào hội lớn. Hùng Vương thứ sáu vừa đánh lui quân Ân xâm lấn từ phương Bắc, đất nước không còn việc binh. Nhà vua đã già, muốn chọn người nối ngôi. Nhưng ông có tới hai mươi hai người con trai, các quan lang, người nào cũng muốn ngôi báu về mình.

Vua không chọn theo thứ bậc. Ông gọi cả hai mươi hai người con đến trước mặt, ra một điều kiện: ta muốn truyền ngôi; ai tìm được thức ăn ngon lành quý báu nhất, cuối năm đem về dâng cúng tiên vương cho trọn đạo hiếu, người ấy sẽ được nối ngôi.

Các hoàng tử lập tức tỏa đi bốn phương. Người ngược núi, người xuôi biển, kẻ sai thuộc hạ lùng khắp hang cùng nước độc. Suốt một năm, của lạ trên rừng dưới biển đổ về phủ đệ các quan lang, nhiều không đếm xuể.

Đến ngày hẹn, sân điện Phong Châu bày kín lễ vật. Mâm nào cũng chất cao những của kỳ trân: món từ núi cao, món từ biển sâu, những thứ mà người thường cả đời chưa từng thấy chứ đừng nói từng nếm. Các hoàng tử đứng bên mâm cỗ của mình, chờ vua cha đi qua.

Giữa những mâm cao cỗ đầy ấy có một mâm khác hẳn. Trên mâm chỉ có bánh. Một thứ bánh vuông, gói lá xanh. Một thứ bánh tròn, trắng mịn, làm từ xôi giã nhuyễn. Người đứng sau mâm bánh là Lang Liêu, con thứ mười tám. Mẹ ông vốn phận thấp hèn trong cung, đã mất từ lâu; ông ít kẻ hầu người hạ, sống lặng lẽ giữa đám anh em quyền thế, và cả năm qua không ai thấy ông sai người đi tìm của lạ ở đâu.

Vua nếm từng món, đi qua từng mâm. Đến mâm của Lang Liêu, ông dừng lại lâu hơn. Ông ăn miếng bánh vuông, rồi miếng bánh tròn. Ngon miệng mà lạ: hai thứ bánh này chưa từng có trên đời. Vua gọi con lại hỏi.

Lang Liêu quỳ thưa. Ông kể rằng suốt bao ngày lo nghĩ không biết lấy gì dâng cúng tiên vương, một đêm ông nằm mộng thấy thần nhân đến bảo: trong trời đất, không vật gì quý cho người bằng gạo, vì gạo nuôi người, ăn mãi không chán, không thứ gì thay được. Hãy lấy gạo nếp làm bánh, thứ vuông tượng hình đất, thứ tròn tượng hình trời; lấy lá bọc ngoài, đặt nhân ngon trong ruột, để ngụ công ơn cha mẹ sinh thành đùm bọc. Tỉnh dậy, ông làm đúng như lời: chọn gạo nếp trắng, hạt tròn đầy không sứt mẻ, vo sạch, gói lá xanh thành hình vuông, bỏ nhân vào giữa, luộc thật chín. Lại đồ xôi, giã nhuyễn, nặn thành hình tròn.

Vua nghe xong, ngẫm nghĩ. Các con ông đã mang về đủ mọi thứ quý hiếm của rừng của biển, nhưng những thứ ấy đều là của kiếm được, không phải của làm ra. Còn hai thứ bánh này làm từ hạt gạo, thứ nuôi sống muôn dân, mà trong hình dáng lại chứa cả trời đất và công cha nghĩa mẹ. Vua phán: lễ vật của Lang Liêu đúng nhất với việc thờ cúng tiên vương. Ngôi báu về tay người con thứ mười tám.

Hai mươi mốt người anh em còn lại được chia đi trấn giữ các vùng biên viễn. Từ những vùng đất họ đến, làng thôn trang trại mọc lên khắp cõi.

Còn hai thứ bánh của Lang Liêu thì ở lại. Thứ bánh vuông luộc chín gọi là bánh chưng, thứ bánh tròn giã nhuyễn về sau gọi là bánh giầy. Cứ đến cuối năm, khi con cháu sửa lễ cúng ông bà tổ tiên, hai thứ bánh ấy lại được đặt lên bàn thờ trước nhất.


Cốt truyện theo Lĩnh Nam Chích Quái

Nguyên văn Hán văn theo bản chuẩn (bản Vũ Quỳnh, đối chiếu Wikisource và Chinese Text Project):

雄王既破殷軍之後,國家無事,欲傳於子,乃會官郎,公子二十二人,謂曰:「我欲傳位,有能如我願,欲珍甘美味,歲終薦於先王,以盡孝道,方可傳位。」於是諸子各求水陸奇珍之物(一作異味),不可勝數。惟十八子郎僚母氏單寒微,先已病故,左右寡少,難以應辦。晝夜思想,夢寐不安。夜夢神人告曰:「天地之物所貴於人,無過米。所以養人,人能壯也。食不能厭,他物莫能先。當以糯米作餅,或方或圓,以象天地之形,葉包其外,中藏美味,以寓父母生育之重(一作狀)。」郎僚驚覺,喜曰:「神人助我也。」遵而行之。乃以糯米擇其精白,選用圓完無缺折者,淅之潔靜,以青色葉包裹為方形,置珍甘美味在其中,以象天地包藏萬物焉。煮而熟之,故曰蒸餅。又以糯米炊熟,搗而爛之,捏作圓形以象天,故曰薄持餅。

Dịch (theo Đinh Gia Khánh 1960 và Lê Hữu Mục 1960, có hiệu chỉnh):

“Hùng Vương sau khi đã phá tan quân Ân, nước nhà vô sự, muốn truyền ngôi cho con, bèn hội họp các quan lang, hai mươi hai người con, nói rằng: ‘Ta muốn truyền ngôi. Ai làm theo được ý ta, tìm được thứ ngon bổ quý hiếm, cuối năm dâng cúng tiên vương để tròn đạo hiếu, thì mới được truyền ngôi.’ Thế là các con trai mỗi người đi tìm những thứ kỳ trân trên cạn dưới nước (một bản ghi ‘thứ ngon lạ’), không đếm xuể. Chỉ có người con thứ mười tám là Lang Liêu, mẹ vốn là kẻ đơn hèn thấp kém, đã qua đời vì bệnh, tả hữu ít người, khó bề lo liệu. Ngày đêm lo nghĩ, trằn trọc không yên. Một đêm, thần nhân hiện đến trong mộng, bảo rằng: ‘Trong các vật của trời đất, không thứ gì quý với người bằng gạo. Gạo nuôi người, người nhờ đó mà mạnh. Ăn không chán, không thứ gì thay thế được. Hãy lấy gạo nếp làm bánh, có thứ vuông có thứ tròn, để tượng hình trời đất; lấy lá bọc ngoài, giấu thứ ngon bên trong, để ngụ công lao sinh dưỡng của cha mẹ (một bản: hình dạng của sự sinh dưỡng).’ Lang Liêu tỉnh dậy kinh ngạc, mừng nói: ‘Thần nhân giúp ta rồi!’ Làm theo. Bèn chọn gạo nếp trắng tinh, hạt nào tròn đầy không sứt mẻ, vo sạch sẽ, dùng lá xanh gói thành hình vuông, đặt thứ ngon ở giữa, tượng trưng trời đất bao bọc vạn vật. Luộc chín, gọi là 蒸餅 (bánh chưng). Lại lấy gạo nếp đồ chín, giã nhuyễn, nặn hình tròn tượng trời, gọi là 薄持餅 (bánh bạc trì).”

Phần cuối truyện (có đủ trong mọi bản thảo): ngày cuối năm, Lang Liêu chỉ dâng hai thứ bánh đó. Hùng Vương nếm, kinh ngạc, hỏi chuyện, nghe kể về giấc mộng và ý nghĩa hình vuông hình tròn, phán rằng Lang Liêu dâng đúng nhất, truyền ngôi cho ông. Hai mươi mốt người anh em còn lại được phân đi cai quản các vùng biên viễn, lập nên làng thôn xã trại. Đoạn kết vì thế vừa khép chuyện kế vị vừa mở một sự tích thứ hai: nguồn gốc làng xóm trên đất Việt.

Nhân vật trung tâm của truyện có entry riêng: xem Lang Liêu.

Vị trí trong Lĩnh Nam Chích Quái

Chưng Bính truyện là truyện thứ tám của quyển I trong bộ Lĩnh Nam chích quái liệt truyện theo bản biên tập Vũ Quỳnh và Kiều Phú 1492-1493, đứng sau Đổng Thiên Vương truyện (truyện thứ bảy) và trước Tây Qua truyện (truyện thứ chín, sự tích dưa hấu). Trật tự này được cả hai bản dịch 1960 (Lê Hữu Mục ở Sài Gòn; Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San ở Hà Nội) và bản khắc Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san (Đài Bắc, 1992) giữ nguyên.

Trong cấu trúc 22 truyện, Chưng Bính nằm trong cụm truyện phong tục cùng Trầu cau (truyện thứ 5) và Tây qua (truyện thứ 9): ba sự tích giải thích nguồn gốc ba vật gắn với đời sống lễ nghi của người Việt. Lê Hữu Mục (Khai Trí, 1960) xếp cả ba vào loại “truyền thuyết phong tục”, phân biệt với cổ tích: truyện không kể để giải trí mà để cắt nghĩa một tập tục đang sống.

Văn bản học: truyền bản và dị bản

Truyền bản chữ Hán

Ít nhất mười một truyền bản còn lại, phần lớn lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội) dưới ký hiệu A.33, A.749, A.750, A.1200, A.1300, A.1897, A.1920, A.2914, cùng một số bản tại Société Asiatique (Paris) và kho EFEO cũ. Gaspardone (BEFEO XXXIV, 1934, tr. 128-129) là người đầu tiên mô tả hệ thống bản thảo này. Các bản chia hai nhánh chính: nhánh 22 truyện theo bản Vũ Quỳnh (Chưng Bính là truyện I.8) và các nhánh mở rộng 38 truyện, 43 truyện về sau.

Trong nội bộ Chưng Bính truyện, bộ máy khảo dị (bản Trần Khánh Hạo 1992; bản Nguyễn Thị Oanh) ghi nhận các điểm chép khác nhau bằng chữ “一作” (một bản ghi):

Bản 1 (Vũ Quỳnh / A.33)
Các con trai tìm “vật quý”
奇珍之物 kỳ trân chi vật
Ý nghĩa nhân bánh
父母生育之重 “công ơn sinh dưỡng”
Số quan lang
22 (公子二十二人)
Tên nhân vật
郎僚 Lang Liêu
Bản 2 (一作)
Các con trai tìm “vật quý”
異味 dị vị “thứ ngon lạ”
Ý nghĩa nhân bánh
父母生育之狀 “hình dạng sinh dưỡng”
Số quan lang
“20” (dị bản dân gian)
Tên nhân vật
薛郎僚 Tiết Lang Liêu
Hệ quả
Các con trai tìm “vật quý”
Vật thể hay hương vị
Ý nghĩa nhân bánh
Đạo lý hay hình tượng
Số quan lang
Văn bản hay truyền miệng
Tên nhân vật
Nhánh văn học hay nhánh ngọc phả

Nhánh ngọc phả

Hùng Đồ Thập Bát Diệp Thánh Vương Ngọc Phả Cổ Truyền (cấp phát năm 1472 dưới triều Lê Thánh Tông) đưa Lang Liêu vào bảng phả hệ chính thức: sau khi lên ngôi, ông là Hùng Vương thứ bảy, hiệu Hùng Chiêu Vương Minh Tông hoàng đế. Maspero (BEFEO 18, 1918, tr. 1, chú thích 2) nhắc đến một tập sách dân gian vô danh về “lịch sử mười tám đời vua Hùng” phát tại lễ hội đền Hùng hàng năm, mà ông đoán định niên đại cuối thế kỷ XV, tức cùng hệ với đợt cấp phát ngọc phả 1472.

Nhánh truyện dân gian hiện đại

Phiên bản lưu hành hiện nay (Wikisource “Sự tích bánh chưng bánh giầy”; sách giáo khoa Ngữ Văn lớp 6) khác LNCQ ở mấy điểm:

  • Số con trai “hai mươi” thay vì hai mươi hai;
  • Nhân vật gọi là “Tiết Liêu” hoặc “Lang Liêu” tùy bản;
  • Cảnh mẹ mất được tả chi tiết và giàu cảm xúc hơn;
  • Vị thần trong mộng nói thẳng “gạo là thứ quý nhất trên đời”, câu không có trong LNCQ;
  • Tên bánh tròn đã là “bánh giầy / dầy / dày” thay vì “bạc trì bính”;
  • Lá và nhân được giải thích trực tiếp là “cha mẹ bọc lấy con cái”, điều LNCQ chỉ ngụ ý.

Tất cả là bổ sung về sau, phục vụ người đọc đại chúng. Bản học thuật và bản dân gian đã tách dòng từ lâu.

Bảng so sánh ba nhánh

LNCQ Hán văn (bản 1492)
Thể loại văn bản
Truyện chữ Hán
Số hoàng tử
22
Tên bánh tròn
薄持餅 bạc trì bính
Lý do bánh vuông
以象天地之形 tượng hình trời đất
Lý do nhân bánh
之重 công ơn / 之狀 hình dạng cha mẹ
Nhân vật thần linh
神人 ẩn danh
Kết cục Lang Liêu
Kế vị; 21 anh lập làng
Ngọc phả 1472
Thể loại văn bản
Phả ký thánh vương
Số hoàng tử
Không cụ thể
Tên bánh tròn
Bánh giầy
Lý do bánh vuông
Dâng vua cha
Lý do nhân bánh
Không giải thích
Nhân vật thần linh
Không nhắc
Kết cục Lang Liêu
Thành Hùng Chiêu Vương
Dân gian / SGK hiện đại
Thể loại văn bản
Truyện cổ / truyền thuyết
Số hoàng tử
”20”
Tên bánh tròn
Bánh giầy / dầy
Lý do bánh vuông
Tượng trưng đất
Lý do nhân bánh
”Cha mẹ bọc lấy con cái”
Nhân vật thần linh
Thần nhân / thần nông (tùy bản)
Kết cục Lang Liêu
Kế vị; Tết ra đời

Tác giả và niên đại

Câu hỏi ai viết Lĩnh Nam Chích Quái đã tranh luận từ thế kỷ XVIII và chưa có đáp án dứt khoát.

Trần Thế Pháp (tự Thức Chi 識之, người Thạch Thất, Sơn Tây, cuối TK XIV) được truyền thống gán là tác giả. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục, quyển IV, chép: “Lĩnh Nam chích quái, 1 quyển, tương truyền là tác phẩm của Trần Thế Pháp.” Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí (Văn tịch chí) cũng ghi tên ông. Không có bản gốc, không có bản khắc nào từ thế kỷ XIV còn lại.

Vũ Quỳnh (1452/3-1516, tự Thủ Bộc, hiệu Trạch Ổ, người Mộ Trạch, Đường An) viết lời Tựa năm Nhâm Tý 1492 (Hồng Đức 23) và nói thẳng: tên người viết ban đầu không thấy ghi rõ; những bậc tài cao học rộng đời Lý, Trần mới là người viết trước; ông chỉ hiệu đính. Lời tựa này bác bỏ việc gán tác giả cho chính Vũ Quỳnh, điều một số sách vẫn lầm.

Kiều Phú (sinh 1446, tự Tiết Phu 節夫, người Lạp Hạ / Yên Sơn, Quốc Oai, Sơn Tây; tiến sĩ 1475) ký bạt riêng năm Hồng Đức 24 tức 1493, biên tập theo hướng khác Vũ Quỳnh.

Đoàn Vĩnh Phúc (Tú lâm cục, Hàn lâm viện, triều Mạc) viết hậu bạt năm 1554, ghi rằng Vũ Quỳnh và Kiều Phú đã ấn định bộ sách gồm “hai quyển, hai mươi hai truyện, bắt đầu từ Hồng Bàng kết thúc bằng Dạ Xoa”. Ông cũng thêm một quyển Tục biên lấy từ Việt điện u linh tập.

Đồng thuận của học giới hiện đại (Trần Văn Giáp, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Thị Oanh) là LNCQ do nhiều lớp người làm nên: tư liệu truyền miệng đời Lý-Trần, rồi bản thảo gán cho Trần Thế Pháp, rồi hai lần biên tập 1492-1493, rồi mở rộng giữa thế kỷ XVI, rồi bổ sung cuối thế kỷ XVIII.

Motif và biểu tượng: hạt gạo, hình bánh, đạo hiếu

Gạo nếp, lương thực thành thiêng liêng

Cái lõi vật chất của truyện là thứ gần gũi nhất trong đời sống Việt: gạo nếp, lá xanh, nồi luộc. Thần nhân trong mộng nói: “天地之物所貴於人,無過米”, trong các vật trời đất, không thứ gì quý với người bằng gạo. Câu này là tuyên ngôn của nền văn minh nông nghiệp lúa nước đặt vào miệng thần linh.

Nguyễn Đổng Chi (Lược khảo về thần thoại Việt Nam, 1956) đọc câu chuyện như cách một xã hội trồng lúa thiêng hóa lương thực chính của mình: hạt gạo ăn hàng ngày được kéo ra khỏi phạm trù thức ăn thường và đặt vào hệ thống thiêng, có thần dạy, có hình trời đất, có bàn thờ tổ tiên. Qua câu chuyện, việc làm bánh gạo thành thực hành tưởng nhớ tổ tiên. Trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, ông xếp “Gốc tích bánh chưng và bánh dày” đứng số 1 trong mục Sự tích đất nước, vị trí mở đầu cho cả kho tàng.

Hình vuông, hình tròn

Khuôn diễn giải “trời tròn, đất vuông” (天圓地方) mà thần nhân dùng để cắt nghĩa hai thứ bánh thuộc vũ trụ quan cái thiên (蓋天) của kinh điển Trung Hoa, có mặt từ Chu Bễ Toán KinhLã Thị Xuân Thu. Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San (1960) chỉ rõ nguồn gốc kinh điển này. Nhưng cái khuôn mượn không làm nên cái truyện: điều truyện làm là vật chất hóa khuôn đó vào chất liệu hoàn toàn bản địa. Trời đất trong Chưng Bính truyện cầm nắm được, gói được bằng lá dong, luộc được trong nồi, ăn được trong ngày giỗ. Trong các truyền thuyết khai quốc Đông Nam Á, hiếm khi vũ trụ quan được neo vào vật thực theo cách này. Người ta không sờ được vào trời, nhưng người ta cầm được bánh chưng. Lê Hữu Mục (1960) gọi lời giải thích của thần nhân là “rất khách quan và có cứ điểm trong thực tại”: bánh vuông thật sự vuông, bánh tròn thật sự tròn, hệ ký hiệu tự nó hiển hiện, không cần người trung gian cắt nghĩa.

Tầng sâu hơn của truyện, phức hợp gạo và vũ trụ luận, có mặt trong chính vốn truyền thuyết Vietic: sử thi Đẻ đất đẻ nước của người Mường mang cùng phức hợp đó (xem mục so sánh dưới đây). Phần khuôn vuông tròn là lớp kinh điển phủ lên; phần hạt gạo thiêng là nền cũ hơn.

Hiếu đạo, và ai được thắng

Cuộc thi kế vị được đóng khung là bài kiểm tra đạo hiếu (孝道): ai dâng được thứ đúng nhất để cúng tiên vương. Trong khung đó, thắng lợi của Lang Liêu có nghĩa: người hiểu sâu nhất về đạo hiếu là người gần hạt gạo nhất, chứ không phải người có nhiều nhất.

Có một khoảng lặng trong cấu trúc truyện: người con mồ côi mẹ thắng cuộc thi tôn vinh công ơn cha mẹ. Chiếc bánh ông làm mang nghĩa “cha mẹ sinh dưỡng đùm bọc”, mà mẹ ông thì không còn. Truyện không bình luận gì về điều này; nó chỉ kể. Khoảng trống ấy nằm ngay trong nguyên văn Hán, không phải lớp thêm về sau.

Liên hệ khu vực: so sánh

Thần Nông và Hậu Tắc. Thần thoại nông nghiệp Trung Hoa có Thần Nông dạy trồng trọt và Hậu Tắc 后稷, thần lúa, tổ nhà Chu. Thần nhân trong mộng của Lang Liêu không được đặt tên trong LNCQ. Một số bài bình giải đương đại trên mạng, dẫn Việt điện u linh, đồng nhất vị thần này với Hậu Tắc; đó là cách đọc của người thời nay, văn bản gốc không có. Điểm chung thật sự chỉ nằm ở cấu trúc: thần dạy người làm lương thực thiêng.

Người Mường và sử thi Đẻ đất đẻ nước. Người Mường, dân tộc gần người Kinh nhất về ngôn ngữ, có sử thi Đẻ đất đẻ nước (các bản thu thập: Nguyễn Từ Chi và Nguyễn Trần Đản, NXB Kim Đồng 1974; Đặng Văn Lung, Vương Anh và Hoàng Anh Nhân, NXB Khoa học Xã hội; Đinh Văn Ân, NXB Văn hóa dân tộc 2005) mang phức hợp gạo và vũ trụ luận tương tự nhưng không có nhị phân vuông tròn. Phan Đăng Nhật (“Chứng tích văn hóa dân gian về cội nguồn dân tộc”, Nghiên cứu Lịch sử 3, 1981, tr. 43) truy các motif trùng lặp giữa Mo Mường và LNCQ. So sánh này cho thấy nền gạo thiêng có gốc Vietic chung, còn hình học vuông tròn là lớp kinh điển riêng của bản LNCQ.

Thần thoại nguồn gốc gạo ở Đông Nam Á. Truyền thuyết gạo được ban cho con người qua trung gian thần linh phổ biến khắp Đông Nam Á lục địa và hải đảo (các tộc Tai-Kadai, Khmer, Java, Tagalog). Chỗ khác của Chưng Bính truyện: nó gắn gạo cùng lúc với vũ trụ quan và với chính trị kế vị. Ba vấn đề, một câu chuyện, một vật thực.

Nghiên cứu học thuật: ký ức hay kiến tạo?

Chưng Bính truyện nằm trong cuộc tranh luận lớn hơn về toàn bộ chu kỳ Hùng Vương trong LNCQ: đây là ký ức văn hóa của người Việt trước Hán hóa, hay “truyền thống được kiến tạo” thời trung đại?

Liam C. Kelley (“The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition”, JVS 7/2, 2012, tr. 87-130) lập luận rằng chu kỳ Hùng Vương trong LNCQ, bao gồm bối cảnh của Chưng Bính truyện, là sáng tạo văn học Lý-Trần-Lê xây theo khuôn mẫu Hán học, chứ không phải ký ức truyền miệng tiền sử.

Tạ Chí Đại Trường (phúc đáp cùng số JVS, tr. 139-162) chấp nhận tính phân tầng của văn bản nhưng bác kết luận: ông lập luận có nền dân gian cũ hơn nằm dưới lớp văn bản Hán học.

Điều hai bên không tranh cãi: hình thức văn bản của Chưng Bính truyện như ta có hôm nay là sản phẩm biên tập 1492-1493. Điều chưa ai chứng minh được dứt điểm: lớp truyền miệng bên dưới cũ đến đâu. Đối chiếu với sử thi Mường và các thần thoại gạo Đông Nam Á (mục trên) là luận cứ chính của hướng coi phần nền gạo thiêng là lớp cũ; phía Kelley coi cả gói, từ gạo thiêng đến khung thiên địa hiếu đạo, là sản phẩm đọc sách Hán thời trung đại. Tranh luận để ngỏ ở đúng chỗ đó.

Nguyễn Thị Điểu (“A mythographical journey to modernity”, Journal of Southeast Asian Studies, 2013/2014) theo dõi các biến hình của truyền thuyết Hùng Vương từ LNCQ qua tập sách phổ biến thời thuộc địa đến hệ thống tín ngưỡng nhà nước sau 1945; Chưng Bính truyện đi trọn hành trình đó.

Di sản sống

Di sản văn hóa. Năm 2012, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ”, hệ thống tín ngưỡng bao quanh chu kỳ huyền thoại Hùng Vương trong đó có Chưng Bính truyện, được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể Đại diện của Nhân loại. Tháng 5 năm 2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa “Nghề làm bánh chưng, bánh giầy” vào Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia.

Giáo dục. “Sự tích bánh chưng bánh giầy” là bài học về thể loại truyền thuyết trong chương trình Ngữ Văn lớp 6, có mặt ở các bộ sách hiện hành (Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo, Cánh Diều). Phiên bản trong sách là nhánh dân gian hiện đại, cấu trúc lõi giữ nguyên bản LNCQ.

Đời sống. Mỗi dịp Tết Nguyên Đán, hàng triệu gia đình Việt Nam gói bánh chưng. Phong tục tồn tại độc lập với việc người gói có biết chuyện Lang Liêu hay không; nhưng câu hỏi “tại sao bánh chưng hình vuông” vẫn dẫn về cùng một chỗ. Truyền thuyết và thực hành đã tách dòng từ lâu: nhiều nhà nay mua bánh thay vì gói. Nhưng ở những nhà còn gói, nồi bánh đêm cuối năm đun suốt nhiều giờ, và trong khoảng chờ ấy câu chuyện hay được kể lại. Đây là một trong số ít truyền thuyết Hùng Vương còn không gian truyền miệng thật trong đời sống hiện đại.

Lưu ý khi sử dụng

Tính lịch sử. Chưng Bính truyện là văn bản văn học trung đại, không phải sử liệu về thời đại Hùng Vương. Chính sử không kể tích này: Đại Việt sử ký toàn thư chỉ chép khung 18 đời Hùng Vương, Việt sử lược cũng vậy. Mọi chi tiết về “đời Hùng Vương thứ sáu” là quy ước của truyện, không định niên đại được.

Hai nhánh văn bản dễ lẫn. Bản LNCQ (22 hoàng tử, bánh tròn tên “bạc trì bính”) và bản dân gian hiện đại trong sách giáo khoa (20 người con, “bánh giầy”) khác nhau ở nhiều chi tiết. Trích dẫn cần nói rõ theo nhánh nào.

Ngọc phả là hagiography. Việc ngọc phả 1472 phong Lang Liêu làm Hùng Vương thứ bảy là thao tác lịch sử hóa truyền thuyết của triều Lê, dùng được cho lịch sử tín ngưỡng, không dùng làm niên biểu.

Bản dịch khác nhau theo bản nền. Đinh Gia Khánh 1960 và Lê Hữu Mục 1960 dùng truyền bản khác nhau; bản Nguyễn Thị Oanh chuẩn theo A.2914. Trích chi tiết cần đối chiếu. Ấn bản Đinh Gia Khánh in lần đầu ghi NXB Văn hóa, các lần tái bản ghi NXB Văn học; cùng một bản dịch.

Thi viện misattribution. Một số trang mạng (trong đó có Thi viện) gán nhầm LNCQ cho Nguyễn Dữ. Nguyễn Dữ là tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục, một tác phẩm khác.

  1. Trần Thế Pháp (soạn TK XIV), Vũ Quỳnh và Kiều Phú (biên tập 1492-1493). Lĩnh Nam Chích Quái . Chưng Bính truyện (蒸餅傳), quyển I, truyện thứ 8 . Bản Hán: Trần Khánh Hạo chủ biên, Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San, Học Sinh Thư Cục Đài Bắc 1992; Wikisource 嶺南摭怪/蒸餅傳; Chinese Text Project. Bản dịch: Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San, NXB Văn hóa 1960 (tái bản NXB Văn học 1990, NXB Kim Đồng 2017); Lê Hữu Mục, NXB Khai Trí Sài Gòn 1960.
  2. Nguyễn Thị Oanh (chủ biên). Lĩnh Nam Chích Quái (Khảo luận, Dịch chú, Nguyên bản chữ Hán) . Chưng Bính truyện, bản nền A.2914 Viện Hán Nôm, có bộ máy khảo dị . NXB Khoa học Xã hội (tái bản Đinh Tị Books).
  3. Nguyễn Hữu Vinh dịch, Trần Đình Hoành bình. Lĩnh Nam Chích Quái Bình giải . Truyện Chưng Bính . dotchuoinon.com 2015 (PDF 18/3/2015), từ bản Học Sinh Thư Cục Đài Bắc 1992.
  4. Émile Gaspardone. Bibliographie annamite . Mục LNCQ, tr. 128-129; mô tả các bản A.33, A.749, A.750, A.1200, A.1300, A.1897, A.1920, A.2914 . BEFEO tập XXXIV, 1934.
  5. Henri Maspero. Études d'histoire d'Annam. IV. Le Royaume de Van-lang . BEFEO tập 18 (1918), tr. 1-36; chú thích 2 về tập sách phổ biến 18 đời Hùng Vương . EFEO, 1918.
  6. Nguyễn Đổng Chi. Lược khảo về thần thoại Việt Nam . Ban Văn Sử Địa, Hà Nội 1956, 185 tr..
  7. Nguyễn Đổng Chi. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam . Gốc tích bánh chưng và bánh dày (tập I, số 1, mục Sự tích đất nước) . 5 tập, 1957-1982.
  8. Cao Huy Đỉnh. Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam . NXB Khoa học Xã hội, 1974.
  9. Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition . Journal of Vietnamese Studies 7/2 (2012), tr. 87-130 .
  10. Tạ Chí Đại Trường. Comments on Liam Kelley's article . Journal of Vietnamese Studies 7/2 (2012), tr. 139-162 .
  11. Nguyễn Thị Điểu. A mythographical journey to modernity: The textual and symbolic transformations of the Hùng Kings founding myths . Journal of Southeast Asian Studies, Cambridge University Press, 2013/2014.
  12. Keith Weller Taylor. The Birth of Vietnam . tr. 1-44; Phụ lục A tr. 303-305 . University of California Press, 1983.
  13. Khuyết danh (cấp phát triều Lê Thánh Tông, 1472). Hùng Đồ Thập Bát Diệp Thánh Vương Ngọc Phả Cổ Truyền . Đời thứ bảy: Hùng Chiêu Vương / Lang Liêu . Lưu tại Viện Hán Nôm và đền làng Phú Thọ; nhắc trong Maspero, BEFEO 18 (1918), tr. 1, chú thích 2.