Chuyện kể
Kể theo bản dân gian do Nguyễn Đổng Chi sưu tầm trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam; các bản Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái và Toàn thư khác ở một số chi tiết, xem phần Đối chiếu sử liệu.
Ngày xưa, ở xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, tức làng Chèm bên bờ sông Hồng ngày nay, có người họ Lý tên Thân, sinh ra đã khác hẳn người thường. Càng lớn thân hình càng vượt trội, đến tuổi trai tráng thì cao hai trượng sáu thước, đứng giữa làng cao hơn cả nóc nhà, bước một bước bằng người thường chạy mấy bước. Người quanh vùng quen gọi ông là Ông Trọng.
Khúc sông trước làng thuở ấy có con giải dữ, giống thuồng luồng lớn, náu dưới vực sâu, vẫn rình người xuống bến. Một hôm mẹ ông ra sông, bị giải kéo xuống nước. Ông Trọng nghe tin chạy ra, tát cạn cả một khúc sông, bắt con giải giết đi, cứu được mẹ. Từ đó dân hai bờ xuống bến không còn nơm nớp, mà tiếng người khổng lồ làng Chèm cũng đồn đi khắp nơi.
Tiếng đồn ấy mang họa đến. Quan trên bắt ông đi làm phu, coi sức vóc trời cho như sức trâu ngựa, động một chút là roi vọt. Ông bỏ trốn. Trong bước đường cùng, ông giết người, phạm tội đáng chết. Nhưng vua tiếc: người sức vóc thế này, giết đi thì uổng, bèn tha cho tội chết.
Bấy giờ nước Việt đã sang đời An Dương Vương, vua nước Âu Lạc nối sau các vua Hùng. Còn ở phương Bắc, nhà Tần vừa gồm thâu sáu nước, vua Tần xưng là Tần Thủy Hoàng, hoàng đế đầu tiên của một đế chế lớn chưa từng có, rồi đem binh dọa đánh xuống phương Nam. An Dương Vương đành đưa Ông Trọng sang Tần, mong cho dân mình khỏi một cuộc binh đao.
Vua Tần được người khổng lồ thì mừng lắm, phong làm quan, sai đem quân lên trấn ải Lâm Thao ở miền tây bắc xa xôi, nơi quân Hung Nô, giống dân cưỡi ngựa bắn cung ngoài thảo nguyên, năm nào cũng tràn xuống cướp phá. Ông Trọng ra đứng ải. Kỵ binh giặc trông thấy bóng người sừng sững trên mặt thành thì quay ngựa bỏ chạy. Bao nhiêu năm ông giữ ải, biên thùy im tiếng vó ngựa. Vua Tần quý lắm, gả cả công chúa cho ông.
Nhưng đất khách không giữ nổi người làng Chèm. Tuổi già, ông xin vua cho về, về lại làng cũ bên sông Hồng, và mất ở quê nhà.
Tin sang đến Hàm Dương, kinh đô nhà Tần. Vua Tần tiếc lắm, mà lo còn nhiều hơn tiếc: Hung Nô biết ông mất, ắt lại tràn xuống cướp phá như xưa. Vua bèn sai đúc một pho tượng đồng thật lớn giống hệt ông, ruột để rỗng, chứa được mấy chục người, đem dựng trước cửa Tư Mã của kinh thành. Hễ sứ Hung Nô vào chầu, những người nấp sẵn trong ruột tượng lại lay cho tượng cựa mình. Sứ giặc trông lên, hồn vía rụng rời: viên tướng khổng lồ vẫn còn sống, giờ đứng canh ngay cửa cung vua Tần. Sứ về kể lại, từ đó ngoài biên không ai dám phạm ải nữa.
Người phương Bắc gọi pho tượng ấy là tượng Ông Trọng, lâu dần gọi mọi pho tượng lớn đứng canh trước lăng mộ vua chúa là ông trọng. Còn ở làng Chèm, dân làng lập đền thờ ông làm thần, tôn là Đức Thánh Chèm. Tháng Năm âm lịch hằng năm, ba làng ven sông mở hội, chèo thuyền ra giữa sông Hồng lấy nước về tắm tượng, tiếng hò dậy cả một khúc sông. Người làng bảo đó là tiếng quân của Đức Thánh thuở đuổi giặc còn vọng về.
Bối cảnh: Âu Lạc giữa hai thế lực
Truyện Lý Ông Trọng tự đặt mình vào một khung niên đại xác định: cuối đời Hùng Vương, qua đời An Dương Vương (lên ngôi năm 257 TCN theo Toàn thư), đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc (221 TCN). Đó là lúc nước Âu Lạc của An Dương Vương là một quốc gia độc lập ở phương Nam, còn phương Bắc lần đầu tiên bị gom về một mối dưới nhà Tần. Trong khung ấy, Việt điện u linh và Toàn thư kể việc Lý Thân sang Tần như hành trạng của một cá nhân có tài đi tìm đất dụng võ, đúng lời than “chim loan chim phụng, nhất cử vạn lý” mà văn bản đặt vào miệng ông; riêng Lĩnh Nam chích quái kể ông được An Dương Vương đưa sang khi Tần dọa động binh, một nhượng bộ tình thế dưới áp lực chiến tranh (xem bảng đối chiếu dưới). Không bản nào chép một quan hệ thần thuộc thường xuyên giữa Âu Lạc và Tần.
Khung niên đại này chứa những mâu thuẫn mà học giới đã chỉ ra từ sớm. Theo Sử ký, phải đến năm Tần Thủy Hoàng thứ 33 (214 TCN) Mông Điềm mới vượt Hoàng Hà đánh Hung Nô. Lâm Thao ở Cam Túc, cách Giao Chỉ hàng vạn dặm. Chức Tư lệ Hiệu úy (司隸校尉) mà truyện gán cho Lý Thân chỉ được đặt ra năm 89 TCN, hơn trăm năm sau khi nhà Tần đã mất; chức Đô đốc đánh đòn ông thời trẻ còn ra đời muộn hơn nữa (Hucker, A Dictionary of Official Titles in Imperial China, Stanford UP 1985, tr. 451, 544). Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược và Đào Duy Anh đều đã sớm xếp truyện vào phần truyền thuyết. Các mâu thuẫn này không làm truyện mất giá trị; chúng cho biết truyện được viết bởi người đời sau nhìn ngược về, không phải người đương thời chép việc.
Hành trạng: theo chính sử và hai tập truyện cổ
Văn bản Việt sớm nhất chép truyện là Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên (1329), mục “Hiệu úy Uy mãnh Anh liệt Phụ tín Đại Vương”, phần Lịch đại phụ thần. Bản dịch Lê Hữu Mục (Khai Trí 1961, tr. 44) mở đầu:
“Vương họ Lý tên Ông Trọng, người huyện Từ Liêm, mình cao hai trượng ba thước, khí chất đoan dũng khác người thường.”
Theo bản này, thời trẻ ông làm quan ở huyện ấp, bị quan Đô đốc đánh đòn, phẫn chí mà chăm học, rồi “vào làm quan nhà Tần, làm chức Tư lệ Hiệu úy”. Tần Thủy Hoàng thôn tính thiên hạ xong, sai ông trấn thủ Lâm Thao, “thanh danh chấn động Hung Nô”. Ông già, về làng, mất. Thủy Hoàng đúc tượng đồng đặt ở cửa Tư Mã cung Hàm Dương, ruột chứa vài mươi người lay động pho tượng; Hung Nô cho là Hiệu úy còn sống, không dám xâm phạm biên giới. Lý Tế Xuyên dẫn nguồn từ Giao Châu ký và Báo cực truyện, hai sách nay đã mất.
Lĩnh Nam chích quái (truyện thứ 11 trong bản 22 truyện Vũ Quỳnh hiệu chính 1492-1493) chép khác ở đoạn đầu: người ấy “họ Lý tên Thân” (李身), sinh cuối đời Hùng Vương, “tính tình hung tợn”, giết người, tội đáng chết, Hùng Vương tiếc không nỡ giết. Đến đời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn đem binh đánh, An Dương Vương bèn đem Lý Thân sang Tần. Bản này thêm việc Thủy Hoàng gả công chúa cho ông, và kể tiếp phần hậu thân: đời Đường, quan đô hộ Triệu Xương mộng thấy cùng Lý Thân giảng Xuân Thu, Tả truyện, bèn tìm nhà cũ lập đền thờ; Cao Biền dẹp Nam Chiếu, được thần hiển linh giúp, sửa đền, tạc tượng gỗ, gọi là đền Lý Hiệu Úy.
Đại Việt sử ký toàn thư (1479) đưa truyện vào chính sử, nhưng theo cách riêng của Ngô Sĩ Liên: chép làm phụ lục ở Ngoại kỷ, quyển 1, ngay sau bản kỷ An Dương Vương, không xếp vào dòng biên niên. Bản Toàn thư theo Việt điện u linh: bị quan trên đánh đòn, tự sang Tần làm quan, trấn Lâm Thao, chết già ở quê, tượng đồng “trong bụng chứa vài chục người, ngầm làm cho tượng biết cựa cậy”. Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Tiền biên, quyển I, tr. 9) chép gần nguyên dạng, thêm lời chua dẫn An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng. Vị trí “phụ chép” ấy tự nó là một lời bình: sử gia giữ truyện lại vì nó đáng nhớ, nhưng không dám đặt nó ngang hàng sự kiện có thực.
Đối chiếu sử liệu
Bốn hệ văn bản Việt kể bốn cách:
- Tên
- Lý Ông Trọng
- Chiều cao
- 2 trượng 3 thước
- Lý do sang Tần
- Bị đánh đòn, phẫn chí học, tự sang làm quan
- Vợ là công chúa Tần
- Không nhắc
- Motif giết giải tinh
- Không
- Triệu Xương, Cao Biền lập đền
- Có
- Tên
- Lý Thân
- Chiều cao
- 2 trượng 3 thước
- Lý do sang Tần
- An Dương Vương đưa sang khi Tần dọa đánh
- Vợ là công chúa Tần
- Có
- Motif giết giải tinh
- Không
- Triệu Xương, Cao Biền lập đền
- Có
- Tên
- Lý Ông Trọng
- Chiều cao
- 2 trượng 3 thước
- Lý do sang Tần
- Bị đánh đòn, tự sang làm quan
- Vợ là công chúa Tần
- Không nhắc
- Motif giết giải tinh
- Không
- Triệu Xương, Cao Biền lập đền
- Có
- Tên
- Ông Trọng
- Chiều cao
- 2 trượng 6 thước
- Lý do sang Tần
- Bị bắt làm phu, bỏ trốn, giết người, bị đưa sang
- Vợ là công chúa Tần
- Không nhắc
- Motif giết giải tinh
- Có (giết giải cứu mẹ, tát nước)
- Triệu Xương, Cao Biền lập đền
- Không
Khác biệt lớn nhất nằm ở lý do sang Tần. Việt điện u linh và Toàn thư kể một người tự quyết định vận mình; Lĩnh Nam chích quái kể một cuộc trao người dưới áp lực binh đao; bản dân gian mà Nguyễn Đổng Chi sưu tầm kể một người cùng đường. Ba cách kể phản ánh ba tầng người kể: nhà nho trọng chí tự lập, người biên soạn truyền kỳ cần kịch tính bang giao, và dân gian nhìn phu phen tạp dịch bằng kinh nghiệm của chính mình.
Một chi tiết văn bản học đáng ghi: Cương mục chua rằng Đại Thanh nhất thống chí và Quảng dư ký (Lục Bá Sinh) đều chép tên ông là Nguyễn Ông Trọng (阮翁仲). Đây là dấu vết việc nhà Trần bắt tông tộc và dân chúng họ Lý đổi sang họ Nguyễn, như An Nam chí lược của Lê Tắc (1335) chép rõ. Sách Trung Quốc thu nhận truyện qua trung gian văn bản đời Trần về sau, nên giữ cái họ đã bị kiêng húy.
Ông trọng 翁仲 trong sử liệu Trung Quốc
Phía Trung Quốc có chép về “Ông Trọng”, nhưng chép một chuyện khác hẳn. Nguồn sớm nhất là chú giải của Cao Dụ (高誘, đầu thế kỷ III CN) cho Hoài Nam Tử, thiên Phiếm luận huấn (quyển 13): năm thứ 26 đời Tần Thủy Hoàng (221 TCN), có người khổng lồ xuất hiện ở Lâm Thao, cao năm trượng, vết chân sáu thước; triều đình phỏng theo hình dáng ấy đúc người đồng, đặt tên là Ông Trọng và Quân Hà (君何). Sử ký, Tần Thủy Hoàng bản kỷ (quyển 6) chép việc đúc “kim nhân thập nhị” (金人十二), mười hai người vàng, cùng năm ấy; Sách ẩn của Tư Mã Trinh đời Đường chú thêm: mỗi pho nặng nghìn thạch, ngồi cao hai trượng, “hiệu viết Ông Trọng”. Tống thư, Ngũ hành chí còn ghi năm 237 CN Ngụy Minh Đế đúc hai cự nhân, cũng “hiệu viết Ông Trọng”.
Điểm mấu chốt: trong toàn bộ các nguồn này, không có người Giao Chỉ nào tên Lý Thân. Ông Trọng của sử liệu Trung Quốc là tên đặt cho tượng, gắn với điềm người khổng lồ hiện ở Lâm Thao, không gắn với một viên tướng ngoại quốc nào. Từ tên riêng của pho tượng Tần, “ông trọng” trở thành danh từ chung chỉ tượng người canh lăng mộ: hai dãy tượng đá dọc thần đạo Càn Lăng nhà Đường (khoảng 700 CN) được gọi là thạch ông trọng (石翁仲), và các tượng quan văn quan võ trước lăng vua Lê, lăng các vua Nguyễn ở Huế đều thuộc dòng này. Tức là danh xưng “ông trọng” trong nghệ thuật lăng mộ đến Việt Nam theo đường văn hóa Trung Quốc, độc lập với truyền thuyết làng Chèm; còn truyền thuyết làng Chèm, theo hướng đọc của Kelley trình bày dưới đây, lại được dựng nên từ chính kho danh từ ấy.
Số phận mười hai pho tượng Tần cũng được sử Trung Quốc theo dõi đến cùng: Đổng Trác cuối Hán nấu mười pho đúc tiền; hai pho còn lại lưu lạc qua các triều, đến Phù Kiên nhà Tiền Tần (thế kỷ IV) thì bị nấu nốt. Pho tượng trong truyện Việt, nếu từng có, không để lại dấu vết nào ngoài văn bản.
Lớp truyền thuyết
Phần hiển linh của Lý Ông Trọng dày hơn phần hành trạng, và các văn bản không giấu điều đó.
Tượng đồng dọa Hung Nô. Chi tiết ruột tượng rỗng chứa mấy chục người lay cho tượng cử động là hạt nhân truyền kỳ của cả truyện. Nó không có trong bất kỳ nguồn Trung Quốc nào về mười hai kim nhân. Đây là sáng tạo của người kể truyện Việt: biến pho tượng tưởng niệm thành khí cụ trấn biên, và biến cái chết của nhân vật thành khởi đầu một quyền năng mới.
Giấc mộng Triệu Xương. Theo Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh, quan đô hộ Triệu Xương (趙昌, hai nhiệm kỳ 791-802 và 804-806) mộng thấy cùng Lý Thân giảng Xuân Thu, Tả truyện, bèn tìm nhà cũ, lập đền thờ. Cao Biền thời dẹp Nam Chiếu (thập niên 860) được thần giúp, sửa đền, tạc tượng gỗ. Motif thần địa phương báo mộng cho quan đô hộ rồi được lập đền là khuôn quen thuộc của Việt điện u linh; chính khuôn này là chỗ dựa cho giả thuyết Kelley về nguồn gốc thời Đường của truyện.
Công chúa Bạch Tĩnh Cung. Đình Chèm thờ ông cùng phu nhân, tương truyền là con gái Tần Thủy Hoàng. Chi tiết gả công chúa chỉ có trong Lĩnh Nam chích quái và tín ngưỡng dân gian, không có trong bất kỳ sử liệu Trung Quốc nào. Đây là motif hôn nhân nâng vị thế nhân vật, cùng họ với các cuộc hôn nhân thần thánh khác trong truyền thuyết Việt.
Giết giải tinh cứu mẹ. Bản kể dân gian mà Nguyễn Đổng Chi sưu tầm trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (mục “Lý Ông Trọng hay là sự tích Thánh Chèm”) thêm hẳn một chương: chàng khổng lồ giết con giải (thuồng luồng) dưới sông cứu mẹ, tát cạn cả khúc sông. Lớp này thuần dân gian, không có trong văn bản Hán Nôm nào kể trên, và nâng chiều cao ông lên hai trượng sáu thước. Khảo dị của Nguyễn Đổng Chi là nguồn chuẩn cho các biến thể này.
Tách bạch các lớp không làm nhân vật nghèo đi. Ngược lại, nó cho thấy mỗi thời đại cần Lý Ông Trọng vào một việc: thời Đường cần một phúc thần biết giảng kinh truyện, thời Trần cần một Đại vương hộ quốc, dân gian cần một người khổng lồ làng mình từng khiến cả đế chế phương Bắc nể sợ.
Tranh luận học thuật: người thật hay truyền thống được kiến tạo?
Câu hỏi trung tâm về Lý Ông Trọng là ông có tồn tại không, và nếu không, ai đã dựng nên ông. Hai hướng trả lời chính đang đối trọng.
Hướng kiến tạo. Liam C. Kelley (“Constructing Local Narratives: Spirits, Dreams, and Prophecies in the Medieval Red River Delta”, trong China’s Encounters on the South and Southwest, Brill 2015, tr. 78-105; bài “The Real Ông Trọng”, leminhkhai.blog, 5/6/2016) lập luận rằng truyện do quan đô hộ thời Đường, Triệu Xương hoặc Tăng Cổn (tác giả Giao Châu ký, khoảng 866-880), ghép từ hai mảnh có sẵn: (i) danh từ “ông trọng” chỉ tượng đồng khổng lồ thời Tần, đã có trong chú Cao Dụ và về sau trong Sách ẩn; (ii) một viên quan có thực ở Giao Chỉ cuối Hán mang tự Ông Trọng, họ Yao (姚), được Bách Việt tiên hiền chí (Âu Đại Nhậm, thế kỷ XVI) chép lại từ nguồn sớm hơn. Mục đích, theo Kelley, là “thu phục” một thần địa phương vào trật tự trung thành với triều đình đô hộ, một thủ pháp các quan nhà Đường dùng khắp đế chế. Các anachronism về chức quan (Tư lệ Hiệu úy, Đô đốc) là bằng chứng văn bản cho niên đại muộn. Tạ Chí Đại Trường, với cách tiếp cận xét lại các tầng thần linh Việt trong Thần, Người và Đất Việt, thuộc cùng hướng đọc này. Trần Trọng Kim và Đào Duy Anh, từ nửa đầu thế kỷ XX, tuy không có khung “kiến tạo”, đã coi truyện là truyền thuyết không thể dùng làm sử.
Hướng ký ức dân gian. Nguyễn Đổng Chi (Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam) và Đinh Gia Khánh (giới thiệu và hiệu đính Lĩnh Nam chích quái, 1960) đọc Lý Ông Trọng như anh hùng truyền thuyết của dân gian Việt: một người thường dân tài sức vượt cả người phương Bắc, được chính hoàng đế phương Bắc phải dựng tượng ghi nhớ. Lê Hữu Mục, trong lời tựa bản dịch Lĩnh Nam chích quái (1960), đọc truyện như biểu hiện của “khát vọng quật khởi”. Trần Quốc Vượng nhìn hệ thần làng ven sông Hồng, trong đó có Đức Thánh Chèm, như trầm tích văn hóa dân gian có gốc lâu đời hơn văn bản. Nguyễn Hòa (vanhoanghean.com.vn) phê phán trực diện phương pháp Kelley, cho rằng tiếp cận truyền thuyết thuần bằng phê phán văn bản là áp đặt, bỏ qua cơ chế ký ức tập thể.
Vị trí trung gian. Trần Trọng Dương (Viện Nghiên cứu Hán Nôm), trong các trao đổi từ 2016 đến 2024, đề xuất đọc liên ngành: đối chiếu văn bản với thần tích các làng thờ (Ninh Sơn, Trạo Thôn) và dữ liệu khảo cổ; ông thừa nhận lớp truyện hiện hành là sản phẩm trung đại nhưng để ngỏ khả năng có một lõi tín ngưỡng cũ hơn bên dưới.
Điểm chưa ngã ngũ. Hai bên thực ra trả lời hai câu hỏi khác nhau. Chứng cứ của Kelley nhắm vào văn bản: các nguồn hiện còn không cho phép truy truyện lên trước thời Đường, và các chi tiết chức quan lộ niên đại muộn; chưa ai đưa ra được văn bản sớm hơn để bác điều này. Chứng cứ của hướng dân gian nhắm vào tín ngưỡng: một hệ thờ tự dày đặc, lễ hội, thần tích nhiều làng, và sức sống của hình tượng người khổng lồ song hành với Thánh Gióng, những thứ văn bản học không đo hết được. Điều cả hai bên cùng ghi nhận: tên “ông trọng” chỉ tượng canh lăng có trước và độc lập với truyện Việt; hệ thờ Đức Thánh Chèm là có thực và đã sống ít nhất mười hai thế kỷ. Còn con người Lý Thân bằng xương thịt có từng đứng ở ải Lâm Thao hay không, không nguồn nào hiện có trả lời được.
Thờ tự và di tích
Trung tâm thờ tự là đình Chèm, còn gọi là đền Lý Hiệu Úy hay Thụy Hương từ, ở phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, sát bờ nam sông Hồng. Đình thờ Đức Thánh Chèm, tức Hy Khang Thiên Vương Lý Ông Trọng, cùng phu nhân Bạch Tĩnh Cung. Kiến trúc hiện hữu mang phong cách thế kỷ XVIII, mặt bằng “nội công ngoại quốc”, hướng ra sông về phía bắc, một hướng hiếm trong đình làng Việt. Trong đình còn mười pho tượng gỗ tạc năm 1888 (tượng ông và phu nhân cao hơn 3 mét), bốn tấm bia đá (một thời Lê Cảnh Hưng, ba thời Nguyễn), hai chuông đồng thời Nguyễn, và hệ máng đồng đúc rải từ 1748 đến 1824, một loại di vật ít đình nào có.
Năm 1902-1903, trước nạn sạt lở bờ sông, hiệp thợ Vương Văn Địch ở làng Văn Trì đã dùng đòn bẩy và đà gỗ nâng toàn bộ ngôi đình lên cao 2,4 mét bằng phương pháp hoàn toàn thủ công. Văn bia kỷ niệm do tiến sĩ Nghiêm Xuân Quảng soạn. Sự kiện “kiệu đình” này được nhắc đến như một kỳ tích kỹ thuật dân gian. Đình được xếp hạng di tích quốc gia năm 1990 và Di tích Quốc gia đặc biệt theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 25/12/2017.
Lễ hội đình Chèm diễn ra ngày 14-16 tháng Năm âm lịch, do ba làng anh em cùng tổ chức: làng Chèm (Thụy Phương), làng Hoàng (Hoàng Xá) và làng Mạc (Mạc Xá). Nghi lễ chính gồm rước nước trên sông Hồng, rước văn, lễ mộc dục tắm tượng; đoàn thuyền rước nước hò “ù óc” từng nhịp, tương truyền là tiếng quân của Ông Trọng hò reo đuổi giặc. Hội có thi nấu chè kho, bơi trải, đấu vật, thả chim. Lệ làng giữ mấy điều kiêng: chỉ cúng lễ chay, không mặc đồ vàng vào đình (màu áo vua ban cho Đức Thánh), không đặt tên con trùng chữ Trọng và chữ Thân. Lễ hội vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định 2067/QĐ-BVHTTDL ngày 13/6/2016. Ca dao Hà Nội xếp hạng từ lâu: “Thứ nhất là hội Cổ Loa, thứ nhì hội Gióng, thứ ba hội Chèm.”
Ngoài Chèm, đình làng Ninh Sơn (Chúc Sơn, Chương Mỹ) thờ ông làm thành hoàng, thần tích kể đây là nơi cha mẹ ông cầu tự và nơi ông hóa; đình Trạo Thôn có thần tích chép ông làm Chỉ huy sứ thời Hùng Duệ Vương. Trong tín ngưỡng dân gian vùng Hà Nội, Đức Thánh Chèm đứng trong hàng Tứ đại trụ thần “Hương, Bổng, Đổng, Đằng”, chữ Hương chỉ Thụy Hương Lý Thân, xếp sau Thánh Tản và Thánh Gióng.
Hình tượng qua các thời kỳ
Mỗi triều đại để lại một dấu riêng trên hình tượng Lý Ông Trọng. Thời thuộc Đường, ông là phúc thần báo mộng, giảng kinh truyện với quan đô hộ, được Triệu Xương lập đền và Cao Biền tạc tượng. Thời Trần, triều đình ba lần gia phong qua các đợt Trùng Hưng và Hưng Long, thành Uy Mãnh Anh Liệt Phụ Tín Đại Vương (威猛英烈輔信大王); cũng thời Trần, lệnh kiêng húy đổi họ Lý khiến sách vở Trung Quốc về sau chép ông thành Nguyễn Ông Trọng. Triều Lê phong Thượng đẳng Phúc thần. Triều Nguyễn ban ba đạo sắc còn lưu tại đình, với mỹ hiệu Hy Khang Thiên Vương (希康天王).
Câu đối tại đình Chèm thâu tóm vị thế hai mặt của nhân vật: “Điện Việt còn đây thần thượng đẳng, ải Tần chốn đó tướng Trung Hoa.” Người viết câu đối không né tránh việc ông làm tướng cho Tần; họ đặt hai vế cạnh nhau và để người đọc tự thấy: chức tướng là của triều đình phương Bắc, còn ngôi thần thượng đẳng là của đất Việt. Trong dân gian, ông là người khổng lồ song hành với Thánh Gióng; một số nhà nghiên cứu dân gian còn cho “Ông Trọng” và “Ông Gióng” là hai biến thể ngữ âm của cùng một ý niệm khổng lồ, một giả thuyết ngữ âm chưa được kiểm chứng học thuật. Trong mỹ thuật hiện đại, bức sơn mài Hội đình Chèm của Nguyễn Văn Tỵ hiện bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.
Di sản sống
Di sản rõ nhất của Lý Ông Trọng nằm trong ngôn ngữ: “ông trọng” là một trong số ít tên riêng gắn với truyền thuyết Việt đi vào từ vựng chung của cả khu vực, chỉ tượng đá tượng đồng canh lăng mộ từ Càn Lăng nhà Đường đến lăng các vua Nguyễn ở Huế. Người Việt đứng trước hàng tượng quan văn quan võ ở Huế ít ai biết mình đang gọi chúng bằng tên một người làng Chèm, và ngược lại, mối liên hệ ấy chính là thứ truyện kể muốn người nghe tin.
Ở làng Chèm, di sản là một hệ sống nguyên vẹn: ngôi đình bên sông, lễ hội tháng Năm của ba làng, nồi chè kho, tiếng hò “ù óc” trên sông Hồng, và các lệ kiêng tên húy đã giữ hơn nghìn năm chưa đứt. Đình là Di tích Quốc gia đặc biệt, lễ hội là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đợt tu bổ năm 2022 từng gây tranh cãi khi cây đa trước đình bị chặt và bậc thềm bị thay; Cục Di sản văn hóa có công văn ngày 25/3/2022 yêu cầu Sở Văn hóa Hà Nội kiểm tra.
Lưu ý khi sử dụng
Tính lịch sử. Không có nguồn nào đương thời với thế kỷ III TCN chép về Lý Thân. Toàn bộ hồ sơ văn bản bắt đầu từ thời Đường trở đi, và chính sử Việt chỉ chép truyện ở dạng phụ lục. Các chi tiết chức quan (Tư lệ Hiệu úy, Đô đốc) đều là chức đặt ra sau đời Tần. Dùng Lý Ông Trọng làm ví dụ về truyền thuyết và ký ức tập thể thì vững; dùng làm nhân chứng cho quan hệ Âu Lạc và Tần thì không.
Niên đại đình Chèm. Các con số “hơn 2.000 năm” hay “2.300 năm” trên báo chí là tuổi của truyền thuyết theo thần phả, không phải tuổi kiến trúc. Công trình hiện hữu mang phong cách thế kỷ XVIII, trùng tu nhiều lần từ 1631.
Bài thơ vịnh gán cho Nguyễn Du. Một số nguồn phổ thông gán bài thơ vịnh Lý Ông Trọng (kết bằng câu “Hương lửa trời Nam vững để đồ”) cho Nguyễn Du hoặc Cao Bá Quát. Trong Bắc hành tạp lục không có bài nào đề tên Lý Ông Trọng; bài vịnh được chép trong Lĩnh Nam chích quái, nhiều khả năng của tác giả khuyết danh. Chưa xác minh được thì không nên dẫn kèm tên tác giả.
Công chúa Bạch Tĩnh Cung. Việc Tần Thủy Hoàng gả con gái chỉ có trong Lĩnh Nam chích quái và tín ngưỡng đình Chèm, không có trong sử liệu Trung Quốc. Tước Phụ Tín hầu cũng vậy. Đây là chi tiết truyền thuyết, cần chú rõ khi trích.
Số đo mâu thuẫn. Sử Việt chép cao hai trượng ba thước; bản dân gian chép hai trượng sáu thước; Từ Nguyên (1915) của Trung Quốc lại chép “một trượng ba thước”, nhiều khả năng do tam sao thất bản qua Đại Thanh nhất thống chí. Trích số đo cần nói rõ theo bản nào.
Thần tích là hagiography. Thần tích Ninh Sơn, Trạo Thôn quý cho lịch sử thờ cúng, nhưng không dùng được làm niên biểu hành trạng.
Thi viện misattribution. Một số trang mạng (trong đó có Thi viện) gán nhầm Lĩnh Nam chích quái cho Nguyễn Dữ. LNCQ do Trần Thế Pháp soạn, Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên tập; Nguyễn Dữ là tác giả Truyền kỳ mạn lục.