Chuyện kể
Đời Hùng Vương thứ sáu, vua nhà Ân ở phương Bắc lấy cớ nước Nam không chịu triều kiến, đem quân tràn sang. Giặc đi đến đâu, đốt phá nhà cửa, cướp bóc thóc lúa đến đấy. Vua lo, quan quân đánh không lại.
Bấy giờ ở hương Phù Đổng, bộ Vũ Ninh, có một người đàn bà đã luống tuổi, sống một mình, chăm chỉ làm ăn và có tiếng phúc đức. Một sớm bà ra đồng, thấy giữa ruộng in một vết chân người rất to, to hơn bất cứ bàn chân nào bà từng thấy. Bà tò mò, đặt bàn chân mình ướm thử vào xem thua kém bao nhiêu. Về nhà, bà thụ thai. Mười hai tháng sau, bà sinh một đứa con trai mặt mũi khôi ngô.
Bà mừng lắm. Nhưng đứa bé lên ba vẫn không biết nói, không biết cười, đặt đâu nằm đấy. Người làng nhìn vào, ái ngại cho bà.
Rồi giặc Ân kéo đến chân núi Trâu. Thế giặc mỗi ngày một mạnh. Vua sai sứ giả đi khắp các làng, rao tìm người tài ra đánh giặc cứu nước.
Tiếng loa của sứ giả vọng vào từng nhà. Đứa bé đang nằm trên chõng bỗng cất tiếng: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con.”
Bà mẹ sững người. Ba năm nay con bà chưa nói một lời. Nửa mừng nửa sợ, bà ra mời sứ giả vào. Sứ giả nhìn đứa trẻ lên ba nằm trên chõng, chưa kịp hỏi thì đứa bé đã nói trước: “Ông về tâu với vua, rèn cho ta một con ngựa sắt, một cây roi sắt và một tấm áo giáp sắt. Ta sẽ phá tan lũ giặc này.”
Sứ giả vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ, vội về tâu vua. Vua sai thợ rèn trong nước ngày đêm làm gấp ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt.
Từ hôm gặp sứ giả, đứa bé lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng không no. Áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ. Hôm trước còn nằm trên chõng, hôm sau đã ngồi chật cả gian nhà. Một mình bà mẹ làm lụng không đủ nuôi con. Bà con hàng xóm thấy vậy, người góp gạo thổi cơm, người mang cà, người góp vải may áo. Bếp nhà nào cũng đỏ lửa từ gà gáy đến khuya. Bảy nong cơm, ba nong cà, đứa bé ăn hết. Cả làng cùng nuôi một đứa trẻ, và ai cũng mong nó giết giặc cứu nước.
Giặc đã đến sát chân núi Trâu. Thế nước rất nguy. Vừa lúc ấy, sứ giả đem ngựa sắt, roi sắt, áo giáp sắt đến.
Đứa bé vùng dậy, vươn vai một cái, bỗng thành một tráng sĩ mình cao hơn trượng, oai phong lẫm liệt. Tráng sĩ mặc áo giáp, cầm roi, nhảy lên mình ngựa. Ngựa sắt hí dài mấy tiếng, phun lửa, phi thẳng đến nơi có giặc.
Tráng sĩ đón đầu quân giặc mà đánh, giết hết lớp này đến lớp khác. Đang giữa trận, roi sắt gãy. Tráng sĩ không dừng tay, nhổ những bụi tre bên đường quật vào quân giặc. Giặc tan vỡ, giẫm đạp lên nhau mà chạy, đám tàn quân quỳ lạy xin hàng.
Dẹp xong giặc, tráng sĩ không quay về kinh đô, cũng không về làng. Một mình một ngựa, tráng sĩ đi đến chân núi Sóc, lên tới đỉnh, dừng lại. Ở đó, tráng sĩ cởi tấm áo giáp sắt bỏ lại trên núi, rồi cả người lẫn ngựa từ từ bay lên trời, nhỏ dần giữa mây, rồi khuất hẳn. Không về lĩnh thưởng. Không một lời từ biệt. Không ai còn gặp lại.
Vua nhớ công ơn, phong là Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ ngay tại quê nhà.
Người đời sau kể rằng những ao hồ nối nhau thành vệt quanh vùng là vết chân ngựa sắt để lại. Những bụi tre đằng ngà óng vàng là vì bị lửa ngựa phun cháy sém. Một làng bị lửa thiêu, nay vẫn gọi là làng Cháy. Còn đứa trẻ ba năm không nói ấy, dân gian gọi bằng cái tên thân mật: ông Gióng, Thánh Gióng.
Cốt truyện theo Lĩnh Nam chích quái
Bản kể ở trên là bản dân gian đã hoàn chỉnh, quen thuộc với người Việt hiện nay qua bản ghi của Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và sách giáo khoa. Văn bản cổ hoàn chỉnh cốt truyện sớm nhất, truyện “Đổng Thiên Vương” trong Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp soạn cuối thế kỷ XIV, Vũ Quỳnh và Kiều Phú hiệu đính 1492-1493), kể khác ở nhiều điểm.
Theo Lĩnh Nam chích quái: thời Hùng Vương, vua nhà Ân lấy cớ nước Nam không triều kiến, sai quân sang đánh. Long Quân báo mộng cho vua biết sẽ có người tài cứu nước. Một phú ông ở hương Phù Đổng, huyện Vũ Ninh sinh con trai ngày mồng 7 tháng Giêng; đứa bé ba tuổi không biết nói. Khi nghe sứ giả rao, đứa bé bật nói, xin “ngựa sắt cao mười tám thước, kiếm sắt dài bảy thước và một nón sắt”, rồi vươn vai cao hơn mười trượng, đánh tan quân Ân ở núi Trâu (Trâu Sơn), giết vua Ân, đến thôn An Việt núi Sóc thì cởi áo, cưỡi ngựa bay lên trời. Hùng Vương phong Phù Đổng Thiên Vương, cấp nghìn mẫu ruộng hương hoả.
So hai bản sẽ thấy: bản Lĩnh Nam chích quái không có motif mẹ ướm vết chân khổng lồ, không có mười hai tháng mang thai, không có roi sắt và áo giáp sắt, cũng không có chi tiết nhổ tre đằng ngà. Các motif đó bồi đắp muộn hơn, từ thần tích làng, diễn ca Nôm và các bản kể dân gian thế kỷ XVI-XVII. Niên đại trong Lĩnh Nam chích quái cũng chỉ ghi “thời Hùng Vương”; truyện Giếng Việt cùng sách lại đặt sự kiện vào đời Hùng Vương thứ ba. Con số “thứ sáu” là do Đại Việt sử ký toàn thư ấn định về sau.
Văn bản học: từ thần thổ địa đến anh hùng
Truyện Thánh Gióng thành văn qua chuỗi thư tịch Hán Nôm từ thế kỷ XIV đến XIX, và nội dung đổi rõ rệt qua mỗi lần biên soạn.
Lớp sớm nhất không kể về anh hùng đánh giặc. Việt điện u linh tập (Lý Tế Xuyên, 1329) chép truyện dưới danh hiệu “Xung Thiên Dũng Liệt Chiêu Ứng Uy Tín Đại Vương”, dẫn từ Báo Cực truyện (đã mất), trong đó có câu: “Đời truyền Vương vốn là thần thổ địa của chùa Kiến Sơ giáng sinh.” Ở lớp văn bản này, thần Phù Đổng là một nhiên thần cây đá gắn với ngôi chùa, chưa phải nhân thần cầm quân. An Nam chí lược của Lê Tắc (khoảng 1335) đã nhắc “Xung Thiên Thần Vương”, chứng tỏ danh hiệu và cốt truyện phải hình thành trước năm 1285. Ngược lại, Việt sử lược (khuyết danh, cuối thế kỷ XIV) không có đoạn nào về Thánh Gióng ở phần Hùng Vương: thần Phù Đổng chỉ chính thức vào chính sử từ Ngô Sĩ Liên.
Đại Việt sử ký toàn thư (1479) đưa truyện vào Ngoại kỷ, Kỷ Hồng Bàng thị, ấn định niên đại Hùng Vương thứ 6 và giản lược tối đa yếu tố hoang đường: bỏ Long Quân, bỏ kích thước phi phàm, bỏ nón sắt, chỉ còn “một thanh gươm, một con ngựa”. Đáng chú ý nhất: Toàn thư không nhắc “giặc Ân” mà chỉ ghi “trong nước có tin nguy cấp”. Ngô Thì Sĩ trong Đại Việt sử ký tiền biên nhận xét về đoạn này: “Truyện Phù Đổng không nói tới quân nhà Ân, không nói tới việc đúc ngựa sắt, không nói hắt hơi thành mình dài cao, cũng đã nghi là quái đản.” Tô Như (Tia Sáng, 2021) đọc thêm một tầng nữa: Ngô Sĩ Liên có thể đã cải biên hình tượng, một thanh gươm một con ngựa, để gợi liên tưởng Lê Thái Tổ với gươm Thuận Thiên.
Một nhánh văn bản khác gắn Gióng với Phật giáo. Việt điện u linh tục bổ (Nguyễn Văn Chất, thế kỷ XV) chép “Sóc Thiên Vương sự tích ký” với hai dị bản: một bản dân gian kể anh hùng trẻ con ứng mộ diệt giặc rồi bay lên trời ở núi Vệ Linh; một bản lấy từ Thiền uyển tập anh, kể Tỳ Sa Môn Thiên Vương (Vaiśravaṇa, một trong Tứ Thiên Vương Phật giáo) hiện trong giấc mơ Đại sư Khuông Việt thời Lê Đại Hành, giúp đánh quân Tống năm 981. Nguyên bản Thiền uyển tập anh không hề đồng nhất Tỳ Sa Môn với Phù Đổng; việc đồng hoá bắt đầu từ Nguyễn Văn Chất, và khi Đoàn Vĩnh Phúc đưa vào Lĩnh Nam chích quái thế kỷ XVI, câu văn mở đầu bằng chữ “có thể”, tức chính người biên soạn cũng chỉ coi là suy đoán.
Các thư tịch Nguyễn giữ khung Toàn thư: Khâm định Việt sử thông giám cương mục (1856-1884) chép lại kèm ngờ vực về niên đại; Đại Nam nhất thống chí quyển 19 chép đền Đổng Xung Thiên Thần Vương ở xã Phù Đổng; vua Tự Đức viết bài thơ ngự chế “Phù Đổng nhi”, còn lưu mộc bản.
Các tên gọi phản ánh từng lớp văn hoá:
- Đổng Thiên Vương
- 董天王
- Phù Đổng Thiên Vương
- 扶董天王
- Sóc Thiên Vương
- 朔天王
- Xung Thiên Thần Vương
- 冲天神王
- Xung Thiên Dũng Liệt Chiêu Ứng Uy Tín Đại Vương
- Thánh Gióng
- Đổng Thiên Vương
- Âm Hán của tên Nôm Dóng/Gióng
- Phù Đổng Thiên Vương
- Định danh theo địa lý, sắc phong Hùng Vương trong truyện
- Sóc Thiên Vương
- Gốc Phật giáo, núi Vệ Linh
- Xung Thiên Thần Vương
- Sắc phong Lý Thái Tổ
- Xung Thiên Dũng Liệt Chiêu Ứng Uy Tín Đại Vương
- Gia phong Trần (1285, 1288, 1313)
- Thánh Gióng
- Dạng Nôm dân gian, phổ biến từ thế kỷ XX
Nghiên cứu hiện đại: các tầng tín ngưỡng
Giới nghiên cứu đọc hình tượng Gióng như một cấu trúc nhiều lớp, trong đó lớp anh hùng chống ngoại xâm là lớp muộn nhất. Ba công trình dựng nên khung này.
Cao Huy Đỉnh, Người anh hùng làng Dóng (NXB Khoa học Xã hội, 1969; truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh), là công trình kinh điển. Bằng điền dã tại làng Phù Đổng và các làng thợ rào vùng Bắc Ninh, ông đề xuất Gióng nguyên thuỷ là thần Sấm, Dông, Bão, Mưa của tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước, căn cứ vào liên hệ ngữ âm đổng, dóng, dông và hình tượng dân gian Ông Đổng mà ông ghi lại được (in trong Hùng Vương dựng nước, tập I, NXB Khoa học Xã hội, 1972, tr. 110): “Ông Đổng cao lớn lạ thường… Tiếng nói ông vang ầm thành sấm. Mắt ông sáng loé chớp lửa. Hơi thở ông phun ra mây đen, gió bão và mưa dông.” Theo khung này, vết chân khổng lồ là dấu chân thần sấm; ba năm không nói là trạng thái tiềm ẩn của thần tự nhiên trước mùa mưa; bụi tre cháy ở làng Cháy là dấu vết sấm sét đốt cây. Ông còn chỉ ra các motif “con ngựa rỗng”, “áo giáp hở lưng”, “roi sắt gãy” phản ánh hai thái độ song song của cộng đồng với nghề thợ rào: sự khinh thị ban đầu với dân ngụ cư làm nghề rèn, và sự kinh ngạc trước phép mầu của kim khí. Truyền thuyết vì thế gắn với đúng thời điểm chuyển giao kỹ thuật luyện kim ở Đông Sơn.
Trần Quốc Vượng mở rộng luận điểm trong bài “Căn bản triết lý người anh hùng Phù Đổng và hội Gióng” (in trong Lễ hội Thánh Gióng, NXB Văn hoá Thông tin, 2009, tr. 435-438). Ông viết: “Huyền tích Gióng thoạt kỳ thủy là một huyền tích về Mặt Trời và Hội Gióng thoạt kỳ thủy là một nghi lễ nông nghiệp”, cầu cho “mưa nắng phải thì”. Theo ông, biểu tượng Mặt Trời Đông Sơn chuyển từ ngôi sao trên mặt trống đồng sang con ngựa trắng ở đền và ngựa sắt trong truyện: ngựa phun lửa phi từ Đông (Châu Cầu, Phả Lại, Lục Đầu) về Tây (Sóc Sơn) mô phỏng vận động biểu kiến của mặt trời. “Ba ván thuận, ba ván nghịch” trong Hội Gióng ứng với chiều quay xuôi ngược của mặt trời; 28 nữ tướng giặc Ân ứng với Nhị thập bát tú, các sao đêm, Âm, đối lập với Gióng là Dương; “làng áo đỏ” và “làng áo đen” là ngày và đêm. Ông cũng liên hệ tục giắt bông lau của trẻ chăn trâu Hội Xá với hình người giắt bông lau trên mặt trống đồng Đông Sơn, theo phát hiện của Lê Thị Nhâm Tuyết.
Tạ Chí Đại Trường, bài “Thần Phù Đổng” (Đường Mới, Paris, số 5/1986; in lại trong Những bài dã sử Việt, Thanh Văn, 1996, tr. 75-99), vẽ sơ đồ tiến hoá theo sáu bước: (i) thần cây đá thổ địa ở Phù Đổng, mà “Pù Đống” có thể là phiên âm Tày-Thái nghĩa là núi; (ii) thế kỷ IX, thiền sư Vô Ngôn Thông lập chùa Kiến Sơ năm 820, phải thoả hiệp với tín ngưỡng địa phương; (iii) thời Lý phong Xung Thiên Thần Vương, dựng thêm đền ở hương Cảo bên Hồ Tây; (iv) thời Trần ba lần gia phong trong các năm kháng Nguyên, nhiên thần thành anh hùng chống ngoại xâm; (v) đầu thế kỷ XIV, Phù Đổng hội nhập với Sóc Thiên Vương và Tỳ Sa Môn ở núi Vệ Linh; (vi) cuối thế kỷ XIV, Lĩnh Nam chích quái hoàn chỉnh thần tích với niên đại Hùng Vương. Kết luận của ông: “Phù Đổng Thiên Vương hay Thánh Dóng chỉ mới xuất hiện cách nay độ bảy thế kỷ thôi, chứ không phải sinh vào đời Hùng Vương thứ sáu”, nhưng ông cũng nhấn mạnh “thần Phù Đổng vẫn còn giữ lại gốc gác thần tự nhiên của lúc khởi đầu”. Kết luận này đến nay vẫn gây tranh luận.
Trước cả ba người, Nguyễn Văn Huyên đặt nền móng với hai công trình tiếng Pháp: Les Fêtes de Phù Đổng (1938) và Les chants et les danses d’Ai-Lao aux Fêtes de Phù Đổng (EFEO, 1941). Ông là người đầu tiên phân tích Hội Gióng như lễ hội nông nghiệp mang tính phồn thực, không đơn thuần tái diễn một trận đánh, và ghi nhận vai trò phường Ải Lao. Nguyễn Đổng Chi xếp Thánh Gióng vào loại “cổ tích lịch sử” trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam; bản kể của ông hiện là văn bản trong cả ba bộ sách giáo khoa Ngữ văn 6. Nguyễn Chí Bền (Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc, NXB Thế giới, 2010, tr. 202) bổ sung giả thuyết Gióng còn mang bóng dáng vị tổ nghề rèn sắt.
Giặc Ân: điểm chưa ngã ngũ
Không có bằng chứng khảo cổ hay thư tịch Trung Hoa đương thời nào xác nhận một cuộc chiến giữa nhà Ân-Thương và người Việt cổ. Nhà Ân Thương (khoảng 1600-1046 TCN) đóng đô ở Anyang (Hà Nam, Trung Quốc). Giáp cốt văn Ân Khư, kho văn bản đồ sộ của chính nhà Ân, không ghi chiến dịch nào xuống miền Bắc Việt Nam, và khoảng cách hàng nghìn cây số khiến một cuộc viễn chinh như vậy phi lý về hậu cần. Cùng thời điểm đó, miền Bắc Việt Nam đang ở văn hoá Đồng Đậu: chưa có nhà nước, chưa có đồ sắt.
Đồ sắt chỉ xuất hiện rõ ở giai đoạn Đông Sơn muộn, thế kỷ III-II TCN trở đi. Khai quật di chỉ Đường Mây (Cổ Loa) 1969-1983 thu được 11 hiện vật sắt bên cạnh 58 hiện vật đồng. Hình ngựa trên đồ đồng Đông Sơn cũng chỉ xuất hiện sớm nhất từ thế kỷ II TCN, theo Nguyễn Việt (Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á), tiêu biểu là trống Sangeang với hình người mặc trang phục Trung Á cùng voi ngựa, phản ánh ảnh hưởng văn hoá Điền (Vân Nam). Bộ ba “ngựa sắt, giáp sắt, roi sắt” vì vậy phản ánh nhận thức của xã hội thời kim loại muộn, cách nhà Ân hơn một nghìn năm.
Truyện kể giặc Ân; sử liệu không xác nhận một thực thể tương ứng. Đây là câu hỏi học thuật còn mở, và các hướng giải thích chính như sau:
(i) Cao Huy Đỉnh và Trần Quốc Vượng: “giặc Ân” là lớp lịch sử muộn chồng lên cốt lõi thần thoại nông nghiệp; tên “Ân” mang tính biểu tượng cho ngoại xâm phương Bắc nói chung, không trỏ một triều đại cụ thể.
(ii) Nguyễn Việt: truyền thuyết là sự pha trộn giữa thần tre trúc Trúc Vương của người Dạ Lang (Quý Châu), theo làn sóng di dân xuống phía nam thế kỷ III TCN, với thần khổng lồ Ông Đổng / Ông Đùng của cư dân Việt-Mường bản địa; truyện hoàn thiện vào thế kỷ III-II TCN, gắn với hình thành liên minh Âu Lạc. Ông cũng chỉ ra một nghịch lý khảo cổ: quanh Phù Đổng, di tích Đông Sơn từ thế kỷ III TCN tập trung dày đặc (Trung Mầu, Dương Nội, Đa Tốn), trong khi quanh núi Sóc, nơi truyện kể Gióng bay về trời, di tích tiền sử muộn gần như vắng bóng. Từ đó ông cho rằng việc gắn núi Sóc vào truyện là lớp bồi đắp muộn, khoảng thế kỷ XIV-XV.
(iii) Tô Như (Tia Sáng, 2021): nhấn mạnh chiều cải biên chính trị của Ngô Sĩ Liên, người đã chủ động bỏ “giặc Ân” khỏi chính sử.
Điểm các bên cùng ghi nhận: Chương trình Nghiên cứu Thời đại Hùng Vương (1969-1972) do Phạm Huy Thông chủ trì, với sự tham gia của Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng, xuất bản thành bộ Thời đại Hùng Vương (NXB Khoa học Xã hội, 1973), kết luận rằng thời đại Hùng Vương có thật về mặt khảo cổ học văn hoá, qua chuỗi Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Đông Sơn, nhưng từng nhân vật cụ thể thì không có bằng chứng lịch sử. Truyền thuyết được đọc như “hạt nhân lịch sử bọc trong lớp huyền thoại”: ký ức tập thể về xung đột thời dựng nước, mỗi thời đại sau lại bồi thêm một lớp. Nói “không rõ” ở đây không làm hình tượng nhỏ đi; chính vì mang được ký ức chống ngoại xâm của nhiều thế hệ mà một vị thần làng trở thành vị thánh của cả nước.
Tứ bất tử
Thánh Gióng là vị thứ hai trong bộ Tứ bất tử hiện đại: Tản Viên Sơn Thánh, Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử, Liễu Hạnh Công Chúa; bốn vị ứng với chống thiên tai, chống ngoại xâm, mở mang kinh tế, đời sống tâm linh.
Thuật ngữ “Tứ bất tử” xuất hiện sớm nhất trong Dư địa chí (Ức Trai di tập) của Nguyễn Trãi thế kỷ XV. Lời chú giải của Nguyễn Tông Quai thế kỷ XVII cho danh sách ban đầu với Từ Đạo Hạnh ở vị trí thứ tư: “Tản Viên Đại Vương đi từ biển lên núi, Phù Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa bay lên không trung, Đồng tử nhà họ Chử gậy nón lên trời; Ninh Sơn (nay là Sài Sơn) Từ Đạo Hạnh in dấu vào đá để đầu thai. Ấy là An Nam Tứ bất tử vậy.” Các dị bản khác thay vị thứ tư bằng Nguyễn Minh Không (Kiều Oánh Mậu, Tiên phả dịch lục) hoặc Không Lộ. Liễu Hạnh chỉ vào bảng ở lớp hiện đại, cố định qua công trình của Nguyễn Văn Huyên (1944) và cuốn Tứ bất tử (1990) của Vũ Ngọc Khánh và Phạm Minh Thảo. Chu Xuân Giao (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 1/2014) lưu ý thêm: Hội chân biên (1847), sách hay được dẫn làm nguồn cổ của bảng Tứ bất tử, thực ra không có bảng bốn vị này; bộ Tứ bất tử cố định là sản phẩm tập hợp muộn. Trong mọi dị bản, Gióng đều giữ nguyên vị trí. Về hai vị cùng bảng đã có entry riêng: xem Chử Đồng Tử và Tiên Dung.
Di tích và thờ cúng
Khu di tích đền Phù Đổng (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội) xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2013, gồm 8 điểm thành phần trên tổng diện tích 60.343,7 m² theo hồ sơ Cục Di sản văn hoá: đền Thượng (đền chính), đền Hạ thờ mẹ Gióng, Miếu Ban, đình Hạ mã, Cố viên, Giá ngự, khu đánh cờ Đống Đàm và bãi Soi Bia. Đền lưu 37 đạo sắc phong thời Lê Trung Hưng, Tây Sơn và Nguyễn, hai con rồng đá tạc năm 1705 và bia đá năm 1660. Truyền thống dân gian gắn việc dựng đền với Lý Thái Tổ năm 1010 khi dời đô về Thăng Long, nhưng chưa có văn bản đương thời xác thực.
Khu di tích đền Sóc trên núi Vệ Linh (xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn) xếp hạng Di tích quốc gia năm 1962, gồm đền Trình, đền Mẫu, chùa Non Nước, chùa Đại Bi, đền Thượng, hòn đá Chồng và tượng đài hiện đại. Truyền thống cho rằng đền hình thành từ năm 980, khi Lê Đại Hành trên đường chống Tống ghé miếu cầu khấn, sau chiến thắng cho tạc tượng dựng đền.
Chuỗi sắc phong qua các triều, tổng hợp từ Toàn thư, Đại Nam nhất thống chí và Mộc bản triều Nguyễn: Lý Thái Tổ phong Xung Thiên Thần Vương; Trần Nhân Tông gia phong Dũng Liệt (1285) và Chiêu Ứng (1288), hai lần đều trong các năm kháng Nguyên; Trần Anh Tông gia phong Uy Tín (1313); Lê Thái Tổ tái phong Xung Thiên Thần Vương; các đời Nguyễn từ Minh Mạng đến Khải Định tiếp tục tế tự và gia phong. Nhịp sắc phong trùng với các thời điểm chiến tranh giữ nước là dữ kiện chính cho luận điểm của Tạ Chí Đại Trường: mỗi lần đất nước bị xâm lược, vị thần làng Phù Đổng lại được triều đình nâng thêm một bậc.
Hội Gióng và UNESCO
Hội Gióng đền Phù Đổng diễn ra từ mồng 7 đến mồng 9 tháng 4 âm lịch, chính hội mồng 9. Chuỗi nghi lễ: tế Thánh, rước nước từ giếng đền Mẫu (mang nghĩa cầu mưa và tôi luyện khí giới), rước cờ lệnh từ đền Mẫu lên đền Thượng, khám đường, duyệt tướng, rồi hai trận diễn xướng Đống Đàm và Soi Bia. Chiến trường là ba chiếc chiếu, mỗi chiếu đặt một chiếc bát úp trên tờ giấy trắng: bát tượng trưng núi đồi, giấy tượng trưng mây trời. Ông Hiệu Cờ cầm cờ lệnh lụa hoàng hiên dài 2,45 m múa theo nét chữ “Lệnh”, kỵ nhất là cờ cuốn vào cán. Sau mỗi trận, người dự hội tranh mảnh chiếu vì tin nó mang lại may mắn.
Hệ vai diễn gồm năm ông Hiệu (Hiệu Cờ tượng trưng Gióng, Hiệu Trống, Hiệu Chiêng, Hiệu Trung quân, Hiệu Tiểu cổ), khoảng 120 Phù giá, phường Ải Lao với tiết mục “Săn hổ”, và 28 cô tướng nữ tuổi 9-13 đóng tướng giặc Ân: motif “nữ tướng giặc” mà Trần Quốc Vượng đọc là biểu tượng Âm đối lập với Dương. Kết hội, 28 nữ tướng hạ kiệu quỳ xin hàng; hai tướng chỉ huy bị “hành quyết” tượng trưng, các tướng còn lại được tha. Nghi thức tha tướng giặc này là một trong những điểm hồ sơ UNESCO nhấn mạnh: trận đánh kết thúc bằng khoan dung.
Hội Gióng đền Sóc diễn ra từ mồng 6 đến mồng 8 tháng Giêng, khai hội mồng 6, với rước giò hoa tre (tượng trưng gậy tre đằng ngà), rước voi, rước trầu cau, rước ngà voi, rước cỏ voi, rước tướng, rước “Cầu Húc” tượng trưng mặt trời, và tục cướp hoa tre cầu may.
UNESCO ghi danh “Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc” vào Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại lúc 18h20 ngày 16/11/2010 tại Nairobi (Kenya), kỳ họp thứ 5 của Uỷ ban liên chính phủ Công ước 2003. Hồ sơ do Viện Văn hoá Nghệ thuật Việt Nam (VICAS) xây dựng, đệ trình ngày 31/8/2009, với sự tham gia phản biện của Ngô Đức Thịnh. Đánh giá của UNESCO gọi hội Gióng là “một bảo tàng văn hoá của Việt Nam, lưu giữ nhiều lớp phù sa văn hoá, tín ngưỡng”.
Gióng giữa các anh hùng thần thoại thế giới
Motif đứa trẻ thần kỳ lớn nhanh có mặt khắp nơi: Heracles bóp chết rắn từ trong nôi, Cú Chulainn vào cơn cuồng chiến “ríastrad” năm bảy tuổi, Na Tra sinh ra đã biết nói, Momotarō lớn vọt ngay sau khi được nhặt từ quả đào. Gióng đứng trong hàng đó với đủ các dấu hiệu chung: thụ thai khác thường, biểu hiện phi thường từ nhỏ, lập chiến công khi còn rất trẻ, kết cục siêu nhiên. Nhưng có ba điểm Gióng không giống ai.
Thứ nhất, motif im lặng ba năm rồi bật dậy đúng lúc đất nước lâm nguy. Heracles, Cú Chulainn, Na Tra đều phô sức mạnh từ đầu; Gióng nằm im cho đến khi nghe tiếng loa của sứ giả. Trong khung đọc của Cao Huy Đỉnh, đó là trạng thái tiềm ẩn của thần tự nhiên trước mùa dông bão.
Thứ hai, Gióng được cộng đồng nuôi lớn. Bảy nong cơm, ba nong cà là của dân làng góp lại; áo giáp do làng may, tre do đất làng mọc. Heracles có thần giới đứng sau, Cú Chulainn có thầy Scáthach, Na Tra có cha là tướng nhà trời. Gióng có cả làng, và không một người góp gạo nào được nêu tên. Cao Huy Đỉnh (1969) định vị Gióng là “khổng lồ lịch sử”, phân biệt với khổng lồ thần thoại thuần tuý kiểu Thần Trụ Trời: cá nhân Gióng là sự cá nhân hoá sức mạnh tập thể.
Thứ ba, Gióng không mang bi kịch cá nhân. Heracles giết vợ con trong cơn điên; Cú Chulainn chết trong cô độc sau khi tàn phá chính đồng đội; Na Tra róc thịt trả cha. Gióng đánh xong giặc thì cởi giáp, bay về trời, không nhận thưởng, không để lại một xung đột nào. Trong motif anh hùng thăng thiên, Gióng gần Elijah (2 Kings 2:11) và Hoàng Đế hơn Heracles: không có cái chết vật lý. Nhưng Elijah để lại quyền năng tiên tri cho môn đồ, còn Gióng để lại dấu tích vật chất gắn vào cảnh quan: vết chân ngựa thành ao hồ, tre đằng ngà, làng Cháy. Một anh hùng ra đi mà đất đai còn giữ nguyên hình dấu chân ngựa: đó là cách truyền thuyết Việt neo huyền thoại vào địa lý.
Di sản sống
Thánh Gióng là biểu tượng trung tâm của văn học yêu nước nhiều thời kỳ. Cao Bá Quát thế kỷ XIX có bài thơ chữ Hán “Du Phù Đổng Thiên Vương miếu hữu cảm nhi đề” và đôi câu đối tại đền Gióng, theo khảo cứu của Hoa Bằng (Tạp chí Văn học, số 2/1972, tr. 61-64): “Phá tặc, đản hiềm tam tuế vãn; / Đằng vân, khước hận cửu thiên đê” (Đánh giặc còn hiềm ba tuổi thì muộn; / Bay lên mây còn giận chín tầng trời thấp). Tố Hữu trong Theo chân Bác (1970, in trong tập Ra trận, 1972): “Ôi sức trẻ! Xưa trai Phù Đổng / Vươn vai, lớn bổng dậy nghìn cân / Cưỡi lưng ngựa sắt bay phun lửa / Nhổ bụi tre làng, đuổi giặc Ân!” Nguyễn Đình Thi phân tích Gióng trong tiểu luận Sức sống của dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích (1944); chính ông về sau xác nhận chi tiết “Gióng tắm ở Hồ Tây” là tưởng tượng của riêng ông, không phải motif dân gian.
Về tạo hình: tranh Đông Hồ có dòng Phù Đổng Thiên Vương đại phá giặc Ân, khắc gỗ trên giấy dó; Nguyễn Tư Nghiêm có loạt tranh Thánh Gióng, được triển lãm nhân 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (2024). Công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là tượng đài Thánh Gióng bằng đồng nặng khoảng 85 tấn, cao khoảng 11,7 m trên đỉnh núi Đá Chồng (Sóc Sơn), tác giả Nguyễn Kim Xuân, khánh thành ngày 5/10/2010. Phim hoạt hình Chuyện ông Gióng của đạo diễn Ngô Mạnh Lân đạt giải Bồ câu vàng tại Liên hoan phim Leipzig năm 1971, một trong những giải quốc tế sớm nhất của hoạt hình Việt Nam.
Trong giáo dục, truyện Thánh Gióng theo bản kể Nguyễn Đổng Chi mở đầu phần truyền thuyết trong Ngữ văn lớp 6 của cả ba bộ sách giáo khoa hiện hành. Thành ngữ “khoẻ như Phù Đổng”, “lớn nhanh như Thánh Gióng” nằm trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. Hội Gióng vẫn mở đúng hẹn mỗi năm ở cả hai đền, và mỗi kỳ hội, trận Đống Đàm với Soi Bia lại được đánh lại trên ba chiếc chiếu.
Lưu ý khi sử dụng
- Các motif mẹ ướm vết chân, mười hai tháng mang thai, roi sắt, áo giáp sắt, tre đằng ngà không có trong bản Lĩnh Nam chích quái; chúng là bồi đắp thế kỷ XVI-XVII. Khi cần dẫn “bản cổ”, phân biệt rõ bản Lĩnh Nam chích quái với bản dân gian hoàn chỉnh kiểu Nguyễn Đổng Chi.
- Đại Việt sử ký toàn thư không nhắc “giặc Ân”; niên đại Hùng Vương thứ 6 là ấn định của Ngô Sĩ Liên, không phải cứ liệu độc lập.
- Chi tiết “Gióng tắm ở Hồ Tây” là sáng tác của Nguyễn Đình Thi (chính ông xác nhận), từng gây tranh cãi khi lọt vào sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 (2015). Không dùng như motif dân gian.
- Hai câu “Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt / Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng” thường được gán cho Chế Lan Viên nhưng chưa kiểm chứng được từ tuyển tập in chính thức.
- Truyền thống Lý Thái Tổ dựng đền Phù Đổng năm 1010 là truyền khẩu, chưa có văn bản đương thời. Niên đại và nội dung 37 đạo sắc phong tại đền chưa được công bố đầy đủ.
- Nhiều trang mạng (kể cả Thi viện) gán Lĩnh Nam chích quái cho Nguyễn Dữ; đó là nhầm lẫn, tác giả tương truyền là Trần Thế Pháp.