Lang Liêu

Tiết Liêu / Tiết Lang Liêu (薛郎僚, nhánh ngọc phả và dân gian) · Hùng Chiêu Vương (雄昭王, theo ngọc phả 1472) · Hoàng tử thứ mười tám
郎僚 · Lang Liêu: The Eighteenth Prince
Truyện cổ Bắc Bộ Bối cảnh truyện: đời Hùng Vương thứ sáu. Bối cảnh sáng tác: cuối TK XIV (Trần Thế Pháp), biên tập 1492-1493 (Vũ Quỳnh và Kiều Phú)
Lang Liêu

Lang Liêu là hoàng tử thứ mười tám của Hùng Vương thứ sáu trong Chưng Bính truyện của Lĩnh Nam Chích Quái: người duy nhất trong hai mươi hai quan lang không có gì để dâng trong cuộc thi kế vị, vì mẹ ông phận thấp và đã mất, tả hữu ít người. Một đêm thần nhân hiện trong mộng, chỉ cho ông cách lấy gạo nếp làm hai thứ bánh vuông và tròn tượng hình đất trời. Ông làm theo và thắng cuộc, được truyền ngôi. Nhân vật xuất hiện thành văn bản lần đầu trong bản LNCQ biên tập 1492-1493; nhánh ngọc phả 1472 phong ông làm Hùng Vương thứ bảy hiệu Hùng Chiêu Vương; nhánh dân gian gọi ông là Tiết Liêu. Từ một nhân vật truyện, ông trở thành khuôn mặt của đạo hiếu và nền văn minh lúa nước trong ký ức phổ thông Việt Nam.

Chuyện kể

Trong hai mươi hai người con trai của Hùng Vương thứ sáu, Lang Liêu đứng thứ mười tám. Ở một triều đình mà con nào cũng là quan lang, thứ mười tám nghĩa là gần như vô hình: không đủ lớn để được trọng, không đủ nhỏ để được cưng. Mẹ ông lại vốn phận thấp hèn trong cung, không thế lực, không họ hàng đỡ đần, và bà đã mất vì bệnh từ trước. Các anh em ông người nào cũng dinh thự đầy kẻ hầu người hạ; bên cạnh Lang Liêu chỉ có vài người. Ông sống lặng lẽ, gần ruộng đồng hơn gần điện ngọc.

Năm ấy đất nước vừa qua cơn binh lửa. Quân Ân từ phương Bắc kéo sang đã bị đánh lui, bờ cõi yên trở lại. Hùng Vương thấy mình đã già, gọi hai mươi hai người con đến, phán một điều kiện chọn người nối ngôi: ai tìm được thức ăn ngon lành quý báu nhất, cuối năm đem dâng cúng tiên vương cho trọn đạo hiếu, người ấy được truyền ngôi.

Lời vua vừa dứt, các quan lang đã tính chuyện lên rừng xuống biển. Người sắm thuyền ra khơi tìm cá quý, người phái thuộc hạ ngược ngàn săn thú lạ. Của kỳ trân đổ về các phủ đệ, nhiều không đếm xuể.

Lang Liêu về phòng mình, và ở đó, đêm này qua đêm khác, ông thức. Ông không có thuyền để sai ra biển, không có người để phái lên ngàn. Mà kỳ hạn cứ mỗi ngày một gần. Cái ông sợ không hẳn là mất ngôi báu; ngôi báu vốn chưa bao giờ được coi là phần của ông. Ông sợ đến ngày cúng tiên vương, hai mươi mốt người anh em ai cũng có lễ vật, riêng mình tay trắng, đạo làm con không tròn. Ngày nghĩ không ra, đêm ngủ không yên.

Rồi một đêm, trong giấc ngủ chập chờn, có người đến. Dáng như người mà không phải người thường, đứng trước mặt ông, nói:

“Trong các vật của trời đất, không thứ gì quý với người bằng gạo. Gạo nuôi người, người nhờ đó mà mạnh. Ăn mãi không chán, không thứ gì thay thế được. Hãy lấy gạo nếp làm bánh, có thứ vuông có thứ tròn, để tượng hình trời đất. Lấy lá bọc ngoài, giấu thứ ngon bên trong, để ngụ công ơn cha mẹ sinh dưỡng.”

Lang Liêu choàng tỉnh. Trời chưa sáng. Ông ngồi dậy giữa bóng tối, và lần đầu tiên sau bao nhiêu đêm, lòng nhẹ hẳn. Ông mừng, nói một mình: “Thần nhân giúp ta rồi.”

Thứ thần bảo ông dùng, ông có. Gạo nếp không phải của kỳ trân; nó ở ngay trong bồ nhà ông, trên đồng làng ông. Sáng ra, ông bắt tay làm. Ông chọn thứ gạo nếp trắng tinh, nhặt từng hạt tròn đầy, bỏ hết hạt sứt mẻ, vo cho sạch. Ông lấy lá xanh gói gạo thành hình vuông, đặt nhân ngon vào giữa, buộc chặt, cho vào nồi luộc thật chín: hình đất, có vạn vật ẩn trong lòng. Rồi ông đồ một mẻ xôi, giã cho nhuyễn mịn, nặn thành hình tròn vành vạnh: hình trời. Không ai dạy tay ông cả; giấc mộng chỉ cho ông cái nghĩa, còn chọn gạo nào, gói lá gì, luộc bao lâu là việc của đôi bàn tay quen làm.

Ngày cuối năm, lễ vật của hai mươi hai quan lang bày kín sân điện. Sơn hào hải vị chồng chất. Mâm của Lang Liêu chỉ có hai thứ bánh.

Vua nếm từng món, đến bánh của Lang Liêu thì dừng lại, ăn, thấy ngon mà lạ, gọi con đến hỏi. Lang Liêu kể lại giấc mộng, giảng nghĩa hình vuông hình tròn, lá ngoài nhân trong. Vua ngẫm rồi phán: lễ vật này đúng nhất với việc thờ cúng tiên vương. Người con thứ mười tám được truyền ngôi.

Hai mươi mốt người anh em tỏa đi trấn giữ biên viễn, lập làng lập trại khắp cõi. Còn ở kinh đô, người con từng bị bỏ quên ngồi lên ngôi báu, không nhờ thuyền lớn hay thuộc hạ đông, mà nhờ hạt gạo trắng và một giấc mộng đã tin đúng chỗ.


Nhân vật trong Chưng Bính truyện

Lang Liêu (郎僚) là nhân vật trung tâm của Chưng Bính truyện (蒸餅傳), truyện thứ tám quyển I của Lĩnh Nam Chích Quái theo bản biên tập Vũ Quỳnh và Kiều Phú 1492-1493. Ngoài LNCQ và các nhánh phái sinh từ nó, không văn bản cổ nào chép hành trạng của ông: Đại Việt sử ký toàn thư chỉ giữ khung 18 đời Hùng Vương trong Ngoại kỷ, Việt sử lược tóm cả thời đại trong một đoạn. Lang Liêu là nhân vật truyền thuyết trọn vẹn, tồn tại bằng truyện, bằng ngọc phả và bằng chiếc bánh, không bằng sử.

Toàn văn truyện, nguyên bản Hán văn, hệ truyền bản và lịch sử biên tập: xem entry Sự tích bánh chưng bánh giầy (Chưng Bính truyện). Entry này tập trung vào nhân vật.

Dị bản: tên gọi và phả hệ

Tên gọi. LNCQ chép tên nhân vật là 郎僚 (Lang Liêu). Nhánh ngọc phả và truyền miệng dân gian chép 薛郎僚 (Tiết Lang Liêu), rút gọn thành Tiết Liêu. Bản văn học chính thống giữ “Lang Liêu”; phần lớn người Việt lớn lên với bản kể “Tiết Liêu” qua sách vở phổ thông đầu thế kỷ XX về sau.

Ngọc phả phong ông làm Hùng Vương thứ bảy. Bộ Hùng Đồ Thập Bát Diệp Thánh Vương Ngọc Phả Cổ Truyền (cấp phát năm 1472 dưới triều Lê Thánh Tông) cụ thể hóa kết cục của truyện: Lang Liêu lên ngôi thành Hùng Chiêu Vương Minh Tông hoàng đế, Hùng Vương đời thứ bảy. Gắn nhân vật truyền thuyết vào bảng phả hệ có miếu hiệu, có niên số là thao tác quen thuộc của hệ thống ngọc phả Lê-Nguyễn: lịch sử hóa những gì vốn là truyện. Maspero (BEFEO 18, 1918, tr. 1, chú thích 2) ghi nhận một tập sách phổ biến về “lịch sử mười tám đời vua Hùng” phát tại lễ hội đền Hùng, cùng hệ với đợt ngọc phả này.

Số anh em. LNCQ ghi hai mươi hai quan lang (公子二十二人). Phần lớn bản dân gian hiện hành, kể cả sách giáo khoa, ghi “hai mươi người con”. Thứ tự mười tám của Lang Liêu thì mọi nhánh giữ nguyên.

Thần nhân trong mộng. LNCQ gọi là 神人, không tên. Một số bài bình giải đương đại trên mạng, dẫn Việt điện u linh, đồng nhất vị này với Hậu Tắc (后稷), thần lúa của kinh điển Trung Hoa. Văn bản LNCQ không có căn cứ cho đồng nhất đó; nó là cách đọc của người thời nay.

Ý nghĩa nhân bánh. Bộ khảo dị ghi hai cách chép tại cùng một chỗ: lá bọc nhân trong để ngụ “父母生育之重” (công ơn sinh dưỡng của cha mẹ) hoặc “父母生育之狀” (hình dạng của sự sinh dưỡng). Bản “之重” nghiêng về đạo lý, bản “之狀” nghiêng về hình tượng. Khác một chữ, lệch một cách hiểu.

Bản dân gian hiện đại (Wikisource, sách giáo khoa) thêm nhiều chi tiết cảm xúc không có trong LNCQ: cảnh mẹ mất tả tỉ mỉ, cảnh anh em chê bai, cảnh Lang Liêu ngồi buồn một mình. Đều là lớp bồi sau, phục vụ người đọc phổ thông.

LNCQ (Hán văn, bản 1492)
Tên nhân vật
郎僚 Lang Liêu
Số anh em
22 quan lang
Thứ tự
Con thứ mười tám
Người mẹ
Không tên, “phận thấp, đã mất”
Thần giúp
神人 thần nhân (ẩn danh)
Tên bánh tròn
薄持餅 bạc trì bính
Kết cục
Kế vị; 21 anh lập làng
Ngọc phả 1472
Tên nhân vật
薛郎僚 Tiết Liêu, thành Hùng Chiêu Vương
Số anh em
Không cụ thể
Thứ tự
Con thứ mười tám, thành vua thứ bảy
Người mẹ
Không nhắc
Thần giúp
Không nhắc
Tên bánh tròn
Bánh giầy
Kết cục
Lên ngôi Hùng Chiêu Vương
Dân gian / SGK hiện đại
Tên nhân vật
Tiết Liêu / Lang Liêu (tùy bản)
Số anh em
”20 người con”
Thứ tự
Con thứ mười tám
Người mẹ
Không tên, cảnh mất tả tỉ mỉ
Thần giúp
Thần nhân / thần nông (tùy bản)
Tên bánh tròn
Bánh giầy / bánh dầy
Kết cục
Kế vị; phong tục Tết ra đời

Ý nghĩa văn hóa

Người con mồ côi và câu hỏi của vua cha

Cấu trúc truyện có một nghịch lý được cài chủ ý: cuộc thi dâng cúng tổ tiên được thắng bởi người con có ít thứ để dâng nhất. Lang Liêu không có của ngon vật lạ; ông có gạo, và có giấc mộng nhắc rằng gạo mới là thứ quý nhất.

Nguyễn Đổng Chi (Lược khảo về thần thoại Việt Nam, 1956) đọc truyện như tuyên ngôn của nền văn minh lúa nước: thứ giản dị nhất, hạt gạo và bàn tay, thắng sơn hào hải vị vì nó gần đất hơn, gần đời sống thật của con người hơn. Lang Liêu không trở nên giàu có sau khi thắng; ông trở nên xứng đáng, vì hiểu đúng câu hỏi của cha. Câu hỏi ấy, đọc kỹ, khác câu “ai có thứ ngon nhất”: vua hỏi ai dâng được thứ đúng nhất để cúng tiên vương cho tròn đạo hiếu. Lang Liêu, người sống gần hạt gạo nhất trong hai mươi hai anh em, là người duy nhất trả lời trúng. Truyện giữ ông ở đúng vị trí đó: thắng bằng đức và bằng hiểu, chứ không phải bằng may mắn hay mưu mẹo.

Còn một khoảng lặng ít được bình: người con mồ côi mẹ thắng cuộc thi tôn vinh công cha nghĩa mẹ. Chiếc bánh ông làm mang nghĩa “cha mẹ sinh dưỡng đùm bọc”, mà mẹ ông thì không còn để thấy. Nguyên văn Hán đã chứa khoảng lặng này; nó không phải lớp thêm của người kể sau.

Hình vuông, hình tròn: khuôn mượn, chất liệu bản địa

Khuôn “trời tròn, đất vuông” (天圓地方) mà thần nhân dùng để giảng nghĩa hai thứ bánh thuộc vũ trụ quan cái thiên (蓋天) trong kinh điển Trung Hoa, có từ Chu bễ toán kinhLã thị Xuân Thu; Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San (1960) chỉ rõ gốc kinh điển này. Cái truyện làm với khuôn mượn ấy mới là phần Việt: nó đưa trời đất vào hạt gạo nếp, lá xanh, nhân đậu, những thứ của đồng ruộng châu thổ, và biến vũ trụ quan thành vật cầm nắm được. Lê Hữu Mục (Khai Trí, 1960) nhận xét lời giải thích của thần nhân “rất khách quan và có cứ điểm trong thực tại”: bánh vuông thật sự vuông, bánh tròn thật sự tròn, ai cầm chiếc bánh lên cũng tự thấy nghĩa, không cần người trung gian giảng.

Cao Huy Đỉnh (Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, 1974) thêm một tầng đọc: người mẹ chết trong thất sủng và thắng lợi của đứa con phản ánh bước chuyển từ xã hội mẫu hệ sang trật tự phụ hệ Nho giáo; người đàn bà bị gạt ra ngoài, nhưng công sinh dưỡng của bà được giữ lại trong hình tượng bánh bọc nhân. Văn bản không nói điều này; cấu trúc của nó thì chịu được cách đọc này.

Anh hùng văn hóa: thần dạy, người làm

Trong hệ truyền thuyết Hùng Vương, ít nhân vật nhận chỉ dẫn thần linh qua giấc mộng. Phù Đổng Thiên Vương thuộc dạng khác: ông thần giáng trần. Lang Liêu là người thường, nhận lời chỉ trong mộng rồi tự tay làm ra thứ mình cần. Cấu trúc thần dạy, người làm là mẫu anh hùng văn hóa quen thuộc của thần thoại nông nghiệp: tri thức trồng trọt, chế biến được thiêng hóa bằng cách truyền qua trung gian thần linh. Chỗ riêng của Lang Liêu: giấc mộng chỉ cho ông cái nghĩa (vuông tròn, trời đất, công cha mẹ), còn việc chọn hạt gạo nào, gói lá gì, luộc bao lâu là phần ông tự quyết. Câu “Lang Liêu tỉnh dậy, mừng nói: thần nhân giúp ta rồi” (郎僚驚覺,喜曰:神人助我也) vì thế rất người: ông mừng vì có câu trả lời cho câu hỏi làm ông mất ngủ bao đêm, chứ đâu phải vì được ban phép lạ.

Từ bánh tế đến bánh Tết

Trong văn bản LNCQ, hai thứ bánh là vật tế tiên vương cuối năm, gắn với nghi lễ cung đình và tính chính danh của ngôi vua. Ngày nay bánh chưng là bánh Tết của mọi gia đình. Bước chuyển từ lễ vật cung đình sang phong tục nhà nhà là quá trình dân gian hóa mà phần lớn nghi lễ gắn với hệ Hùng Vương đều trải qua; riêng trường hợp bánh chưng, vật mang nghĩa vẫn giữ nguyên hình dạng vuông tròn mà truyện đã cắt nghĩa. Tháng 5 năm 2023, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa “Nghề làm bánh chưng, bánh giầy” vào Danh mục Di sản Văn hóa Phi vật thể Quốc gia.

Di sản sống

Giáo dục. “Sự tích bánh chưng bánh giầy” là bài học về thể loại truyền thuyết trong chương trình Ngữ Văn lớp 6, có mặt ở mọi bộ sách hiện hành. Lang Liêu theo đó là một trong những hình mẫu đầu tiên trẻ em Việt gặp trong nhà trường về đạo hiếu và giá trị của lao động giản dị.

Nghệ thuật. Ấn bản Lĩnh Nam chích quái do Tạ Huy Long minh họa (NXB Kim Đồng, 2017) dựng lại hình ảnh Lang Liêu và hai thứ bánh bằng ngôn ngữ đồ họa hiện đại, đưa nhân vật đến một thế hệ độc giả mới.

Thờ tự. Theo ghi chép ngọc phả địa phương, Lang Liêu được thờ tại một số miếu vùng Việt Trì, Phú Thọ, tập trung ở Hương Trầm và Dữu Lâu. Tín ngưỡng thờ ông hẹp hơn nhiều so với thờ Hùng Vương hay Lạc Long Quân: ông là nhân vật được nhớ qua truyện và qua chiếc bánh hơn là qua đền miếu.

Đời sống. Mỗi Tết, hàng triệu gia đình gói bánh chưng. Người gói có thể quên tên Lang Liêu, nhưng khi câu chuyện được nhắc lại bên nồi bánh, nó vẫn y nguyên: người con không có gì, được thần chỉ trong mộng, thắng tất cả bằng hạt gạo.

Lưu ý khi sử dụng

Lang Liêu là nhân vật truyền thuyết, không phải nhân vật lịch sử. Không chính sử nào chép hành trạng của ông; nguồn duy nhất là LNCQ (văn học trung đại) và ngọc phả (hagiography). Viết về ông như một ông vua có niên đại là lặp lại thao tác lịch sử hóa của ngọc phả 1472, không phải chép sử.

Ngọc phả dùng cho lịch sử tín ngưỡng, không dùng làm niên biểu. Danh hiệu Hùng Chiêu Vương, các niên số sinh và trị vì trong hệ ngọc phả là sản phẩm của dự án phong thánh triều Lê, có giá trị nghiên cứu tín ngưỡng và ký ức cộng đồng.

Hai tên, hai nhánh. “Lang Liêu” theo LNCQ, “Tiết Liêu” theo ngọc phả và dân gian. Trích dẫn cần nói rõ theo nhánh nào.

Thi viện misattribution. Một số trang mạng gán nhầm LNCQ cho Nguyễn Dữ. Nguyễn Dữ là tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục, một tác phẩm khác.

Toàn bộ hồ sơ văn bản học của truyện gốc: xem entry Sự tích bánh chưng bánh giầy (Chưng Bính truyện).

  1. Trần Thế Pháp (soạn TK XIV), Vũ Quỳnh và Kiều Phú (biên tập 1492-1493). Lĩnh Nam Chích Quái . Chưng Bính truyện (蒸餅傳), quyển I, truyện thứ 8 . Bản Hán: Trần Khánh Hạo chủ biên, Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San, Học Sinh Thư Cục Đài Bắc 1992; Wikisource 嶺南摭怪/蒸餅傳. Bản dịch: Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San, NXB Văn hóa 1960 (tái bản NXB Văn học 1990, NXB Kim Đồng 2017); Lê Hữu Mục, NXB Khai Trí Sài Gòn 1960.
  2. Nguyễn Thị Oanh (chủ biên). Lĩnh Nam Chích Quái (Khảo luận, Dịch chú, Nguyên bản chữ Hán) . Chưng Bính truyện, bản nền A.2914 Viện Hán Nôm . NXB Khoa học Xã hội (tái bản Đinh Tị Books).
  3. Nguyễn Hữu Vinh dịch, Trần Đình Hoành bình. Lĩnh Nam Chích Quái Bình giải . Truyện Chưng Bính . dotchuoinon.com 2015 (PDF 18/3/2015).
  4. Khuyết danh (cấp phát triều Lê Thánh Tông, 1472). Hùng Đồ Thập Bát Diệp Thánh Vương Ngọc Phả Cổ Truyền . Đời thứ bảy: Hùng Chiêu Vương Minh Tông hoàng đế . Lưu tại Viện Hán Nôm và đền làng Phú Thọ; nhắc trong Henri Maspero, BEFEO 18 (1918), tr. 1, chú thích 2.
  5. Nguyễn Đổng Chi. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam . Gốc tích bánh chưng và bánh dày (tập I, mục Sự tích đất nước) . 5 tập, 1957-1982.
  6. Nguyễn Đổng Chi. Lược khảo về thần thoại Việt Nam . Ban Văn Sử Địa, Hà Nội 1956, 185 tr..
  7. Cao Huy Đỉnh. Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam . NXB Khoa học Xã hội, 1974.
  8. Liam C. Kelley. The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition . Journal of Vietnamese Studies 7/2 (2012), tr. 87-130 .
  9. Tạ Chí Đại Trường. Comments on Liam Kelley's article . Journal of Vietnamese Studies 7/2 (2012), tr. 139-162 .
  10. Émile Gaspardone. Bibliographie annamite . Mục LNCQ, tr. 128-129 . BEFEO tập XXXIV, 1934.
  11. Nguyễn Thị Điểu. A mythographical journey to modernity: The textual and symbolic transformations of the Hùng Kings founding myths . Journal of Southeast Asian Studies, Cambridge University Press, 2013/2014.